|
Có Công
Lý Ở Việt Nam Hay Không ? Trần Trọng Nghĩa (LÊN MẠNG THỨ BA 10 THÁNG MƯỜI HAI 2002) |
Sau vụ xử Cha Lý và Lê Chí Quang, có người đã nói "Công lý ở Việt Nam là một nền công lý đưa lũ ngu đần lên ngồi ghế quan tòa", hoặc giả "luật pháp chỉ để bảo vệ chế độ, bảo vệ chính quyền chứ không phải để bảo vệ công lý, bảo vệ quyền lợi cho người dân".
Vụ án Lê Chí Quang ngày 8/11/2002 vừa qua đã khiến cho dư luận xôn xao. Trong nước, những nhà đấu tranh dân chủ đã lên tiếng cực lực phản đối. Tại hải ngoại, đồng bào ta vô cùng căm phẫn. Lòng yêu nước, dũng cảm của người thanh niên bất khuất Lê Chí Quang đã được các bậc cha chú, người làm thơ, người viết bài ca ngợi, và nhất là đã được giới trẻ Việt Nam tại hải ngoại ngưỡng mộ, theo dõi. Những người như Cha Lý, anh Lê Chí Quang và trước nữa, Hà Sĩ Phu, Ðoàn Viết Hoạt, vv... đã bị cộng sản truy tố, đưa ra tòa án và bị xử nhiều năm tù tội. Thoạt nghe, người ngoại quốc có thể tưởng tượng là ở Việt Nam có một hệ thống luật pháp, có một nền công lý và mọi người đều bình đẳng trước nền công lý đó.
Sự thật không phải như thế. Hơn nửa thế kỷ cầm quyền trên đất nước ta, Việt Nam vẫn chưa có một nền luật lệ cho ra hồn. Những người ngồi ghế thẩm phán để xét xử, cho đến nay vẫn còn những kẻ trình độ văn hóa còn kém cỏi, nói gì đến kiến thức về luật khoa. Nói như vậy, chắc hẳn những người cầm quyền tại Việt Nam và một vài người khác cho là đơn điệu, dựng đứng, tuyên truyền, "nói xấu" chế độ. Ðể thấy được phần nào cái nền "công lý một chiều" đúng nghĩa đen --chứ không như những tên nhà báo ngoại quốc ngu xuẩn trước 1975 đã viết về miền Nam Việt Nam. Thử xem cách tổ chức ngành tư pháp, viện kiểm sát, ngành công an và tòa án và nhất là những con người được đặt để trong hệ thống tư pháp của chế độ cộng sản Hà Nội.
Vài nét tổng quát về hệ thống tư pháp dưới chế độ cộng sản tại VN
Sau khi cướp được chính quyền vào năm 1945, cộng sản Việt Nam dưới nhãn hiệu Việt Minh đã thành lập chính phủ lâm thời, trong đó có Bộ Tư Pháp. Hiến Pháp năm 1946 cũng có ghi sự hiện diện của bộ này. Nhưng cho đến năm 1954, tại các vùng do Việt Minh kiểm soát, người dân Việt Nam chỉ thấy tư pháp Việt Minh được thể hiện qua các "tòa án nhân dân" được dựng lên để kết án tử hình những người mà họ gọi là "địa chủ", "cường hào", "ác bá"... trong các đợt "cải cách ruộng đất" đẫm máu. Thực sự dân trí lúc đó còn kém, nên đồng bào ta cũng chẳng mấy người hiểu tư pháp là gì, công lý là gì, và các "tòa án nhân dân" giết người này có phải là tư pháp, là công lý hay không ? Nói về luật pháp thì, trong cuộc chiến tranh 46-54, quốc hội "tản cư" tán loạn và cũng chẳng có điều kiện làm luật. Bộ luật duy nhất người ta được nghe, được thấy áp dụng một cách man rợ trong thời gian này là "Bộ luật cải cách ruộng đất". Cũng không chắc là bộ luật này đích thực đã được quốc hội soạn thảo và biểu quyết.
Áp dụng chủ trương đấu tranh giai cấp của chủ thuyết cộng sản, chính quyền đã coi "trí, phú, địa, hào" là những giai cấp phải "đào tận gốc, trốc tận rễ", nên việc đào tạo trí thức đã bị gạt ra khỏi tư duy của đảng và Nhà Nước. Nền đại học, nhất là đại học luật chỉ được chú trọng nhiều năm sau 1975. Ðặc biệt thời gian sau khi khối cộng sản thế giới tan vỡ, cộng sản Hà Nội bắt buộc phải "mở cửa" ra thế giới bên ngoài, những điều sáo ngữ ghi trên Hiến Pháp đã không đủ để thuyết phục thế giới. Giới kinh doanh ngoại quốc đã mau chóng khám phá ra là tại Việt Nam, không có một môi trường luật pháp minh bạch, không có một bảo đảm nào cho người dân thường hay người nước ngoài làm ăn. Họ đều là những nạn nhân của những đạo luật không đầu, không đuôi vì luật pháp chỉ để bảo vệ chế độ, bảo vệ chính quyền chứ không phải để bảo vệ công lý, bảo vệ quyền lợi cho người dân. Việc làm luật cũng tùy nghi, tùy tiện. Chỉ khi có việc gì bất lợi cho đảng, cho chế độ xảy ra thì quốc hội mới theo đơn đặt hàng của đảng để làm luật đó. Luật làm ra đều được quan chức của chế độ coi đó là để áp dụng đối với dân chúng. "Công dân" phải tuân hành luật pháp. Vi phạm luật pháp là bị "xử lý". Trong lúc đó, quan chức của đảng tự nhận mình đứng ngoài pháp luật, đứng trên pháp luật. Thậm chí cho đến những ngày gần đây, một tên công an đã nói với "đối tượng" rằng : "Luật pháp là tao". Cán bộ đảng nếu có vi phạm luật, làm thiệt hại tài sản, quyền lợi, danh dự, thậm chí cả sinh mạng của dân, cũng vẫn phây phây không hề hấn gì. Họ đã được đảng cộng sản "đánh tháo" khỏi vòng pháp luật với lý do "xử lý nội bộ". Bọn tội phạm này đã được đồng đảng bao che, gọi là áp dụng kỷ luật nội bộ và như thế là hết chuyện. Công lý, pháp lý đều phải chịu thua. Người dân thấp cổ bé miệng bị hệ thống luật pháp và các "lực lượng bảo vệ luật pháp" đè đầu cưỡi cổ, không có cách nào và cũng chẳng có nơi nào kêu oan.
"Tòa án nhân dân", một sản phẩm đặc trưng mang tính chất phường tuồng của chế độ cộng sản, không giống như các tòa án trên thế giới, dù là dưới thời nào đi chăng nữa. Tòa án này được thành lập từ cấp quận huyện lên đến cấp tỉnh, thành phố và trên hết là Tòa Án Nhân Dân Tối Cao. Tòa án thống thuộc bộ tư pháp, hiện nay Uông Chu Lưu là bộ trưởng. Tại những tòa án từ cấp huyện đến cấp tối cao, núp dưới hai chữ nhân dân, các nguyên tắc tố tụng thường thấy trên thế giới không được tôn trọng. Người ngồi ghế xét xử, trước đây và ngay cả hiện nay, là một người không hề biết luật pháp, không hề được đào tạo làm thẩm phán, thậm chí trình độ văn hóa còn dốt nát. Trong hầu hết mọi trường hợp, những người này có thể là cán bộ, đảng viên cộng sản, xuất thân từ giai cấp vô sản, vô học thức, vô giáo dục, nói chi đến kiến thức thẩm phán. Nhưng, họ vẫn được phong cho cái chức thẩm phán. Những kẻ này thật ra chỉ như phường tuồng làm đúng theo những lời người nhắc tuồng là đảng cộng sản. Ðảng muốn bắt tội, muốn giết người nào thì "thẩm phán phường tuồng" không bao giờ làm khác hơn được. Người bị cáo không hề được luật sư bênh vực. Mà nếu có, trong quá khứ, luật sư cũng vô học như thẩm phán và cũng nhận chỉ thị của đảng cộng sản. Dù cho người mang danh luật sư có chút lương tri thì họ cũng không có gan bênh vực bị cáo, đả phá những luận điệu nêu trong "bản cáo trạng" do đảng đưa ra. Họ sẽ bị quy chụp tội đồng lõa với bị can, tội chống lại đảng và chế độ. Vì thế, luật sư đều biện hộ cho bị can bằng cách xin cho bị can được hưởng "khoan hồng". Trong phiên tòa, cũng có màn "thẩm vấn bị can" ; nhưng trong tất cả mọi phiên tòa phường tuồng xã hội chủ nghĩa, bị can chỉ được phép trả lời "có" hoặc "không" mà thôi. Tại rất nhiều phiên tòa, ngay sau khi tòa tuyên án, công an, cảnh vệ đã nhào tới nhét dẻ vào mồm bị can, không cho nói thêm lời nào. Hành vi bỉ ổi một cách trắng trợn, công khai này không làm cho cộng sản ngượng ngùng vì chúng hạn chế sự tham dự của người dân. Phiên xử anh Lê Chí Quang, lúc đầu cộng sản chỉ cho một mình mẹ anh được vào trong tòa theo dõi phiên xử. Bà đã phải la hét phản đối trước tiền đình tòa án mới khiến được cộng sản chấp thuận cho cha anh vào. Trong tòa toàn là "công an đội lốt nhân dân" (lời của bà mẹ anh Lê Chí Quang).
Các lực lượng "bảo vệ luật pháp"
Có hai bộ phận nằm trong tay đảng cộng sản nhằm tiến hành việc áp dụng luật pháp là "lực lượng công an nhân dân" và "viện kiểm sát nhân dân". Ðây là những công cụ bạo lực, cùng với quân đội có nhiệm vụ bảo vệ chế độ, điều mà cộng sản gọi là : "đảm bảo ổn định, an ninh chính trị và trật tự xã hội".
"Công an nhân dân".
Ngành công an, đã có thời thuộc bộ nội vụ. Nhưng hiện nay trong chính phủ có riêng một bộ công an do Lê Hồng Anh làm bộ trưởng. Công an chia ra làm nhiều ngành chuyên biệt như phản gián, an ninh chính trị, hình sự, trật tự công cộng, điều hòa lưu thông, vv... Nhưng hình ảnh của ngành công an cộng sản trong đầu óc của đồng bào ta là cái gì đáng khiếp sợ. Cách hành xử của các cán bộ công an càng làm cho bộ mặt của ngành này trở nên gớm ghiếc đối với người dân. Tính quan lại, lạm dụng quyền thế, tham nhũng, hà hiếp nhân dân... rất phổ quát ở mọi giai tầng của bộ máy công an. Không thiếu gì người có thể kể về những vụ công an bắt người trái phép, tra tấn người cho đến chết trong các đồn công an, rồi gian dối và đe dọa bắt gia đình phải ký nhận là nạn nhân tự tử... Gần đây, nhân vụ băng đảng xã hội đen Năm Cam bị phanh phui, người ta mới thấy thêm một thành tích nữa của ngành "công an nhân dân" của cộng sản là thông đồng, cấu kết, đồng lõa, dung túng, bao che tội ác của ngành công an, làm hại nhân dân. Những cán bộ, quan chức trong ngành công an dính líu trong vụ án lớn này không phải là những công an viên tép riu đứng đường, đứng chợ hay ở phường, ở khu vực. Họ là những cán bộ cao cấp nhất của ngành, chẳng hạn như thiếu tướng thứ trưởng bộ công an Hoàng Ngọc Nhất. Theo thông tấn xã Việt Nam của chế độ thì "Ngày 15.11, Thủ tướng chính phủ đã ký quyết định 1090/QÐ-TTg thi hành kỷ luật cách chức Thứ trưởng Bộ Công an và giáng cấp từ thiếu tướng xuống đại tá đối với ông Hoàng Ngọc Nhất. Ông Hoàng Ngọc Nhất đã có một số vi phạm, trong đó có những vi phạm liên quan tới vụ án Trương Văn Cam và đồng bọn. Bộ Công An đã có đề nghị giải quyết từ ngày 11.11.2002". Hàng trăm quan chức công an khác từ cấp đại tá xuống đến cấp úy, ở những chức vụ quan trọng trong ngành này cũng đã dính líu tới băng đảng tội phạm có tổ chức Năm Cam. Vì đảng cộng sản không thể bao che cho những người "con yêu" của đảng, hay vì có sự đấu đá, tiêu diệt nhau mà người dân mới có cơ hội nhìn rõ mặt thật của bọn người cộng sản này, vốn được chế độ tuyên truyền là trung thành nhất.
Hệ thống các "Viện Kiểm Sát Nhân Dân".
Người dân Việt Nam, nhất là những ai không sống dưới chế độ cộng sản, rất ít người hiểu biết về bộ phận này. Cũng như hệ thống tòa án, hệ thống kiểm sát dược bố trí từ cấp quận huyện đến trung ương. Trên hết là "Viện Kiểm Sát Nhân Dân Tối Cao". Căn cứ theo bộ "Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân" mang số 34/2002/QH10, ngày 02/04/2002, thì "Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp". Như vậy, cơ quan này, ngoài chức năng là "công tố viện" như trong hệ thống tư pháp của các nước, còn có chức năng kiểm soát và giám sát "các hoạt động tư pháp" : từ điều tra, giam giữ đến xử án. Nhìn qua như vậy thì đã thấy vai trò khống chế của viện kiểm sát lên tòa án và các bộ phận điều tra khác. Về nhiệm vụ, bộ luật nêu trên viết : "Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ góp phần bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể, bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân, bảo đảm để mọi hành vi xâm phạm lợi ích của Nhà nước, của tập thể, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân đều phải được xử lý theo pháp luật...". Ðọc qua điều này người ta thấy rõ viện kiểm sát chỉ thực hiện 2 nhiệm vụ nêu lên đầu tiên. Những nhiệm vụ kế tiếp liên quan đến dân chúng như bảo vệ sức khỏe, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân, vv... đều là những nhiệm vụ ghi thêm để làm cảnh và để lừa bịp thế giới. Thực tế chưa hề thấy viện kiểm sát nhân dân bảo vệ tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân bị án oan. Về nhân sự thì điều 9 của Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân quy định : "Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao do Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm theo đề nghị của Chủ tịch nước ; chịu sự giám sát của Quốc hội, chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội ; trong thời gian Quốc hội không họp thì chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước ủy ban thường vụ Quốc hội và Chủ tịch nước ; trả lời chất vấn, kiến nghị, yêu cầu của đại biểu Quốc hội. Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao do Chủ tịch nước bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao". Không thấy nói điều kiện để một người được bầu làm Viện trưởng, nhưng đối với kiểm sát viên thì điều 43, chương 9 của bộ luật này ấn định : "Công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc và Hiến pháp nước Cộng Hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có phẩm chất, đạo đức tốt, liêm khiết và trung thực, có trình độ cử nhân luật, đã được đào tạo về nghiệp vụ kiểm sát, điều tra, có tinh thần kiên quyết bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, có thời gian làm công tác thực tiễn theo quy định của pháp luật, có sức khỏe bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ được giao, thì có thể được bổ nhiệm làm Kiểm sát viên, Ðiều tra viên".
Thực tế ngành tư pháp tại Việt Nam hiện nay
- Không có phẩm chất :
Sau hơn nửa thế kỷ cầm quyền, ngành tư pháp của chế độ cộng sản Hà Nội vẫn còn nhiều lủng củng. Lủng củng vì nền luật pháp vá víu, thiếu luật, luật nhiều kẽ hở, quan chức chế độ hành động trái với pháp luật mà không bị xét xử... Mới đây, ngày 27/11/2002, thủ tướng Phan Văn Khải trong phát biểu trước Quốc Hội khóa XI đang họp kỳ thứ 2 đã thú nhận rằng : "Cần sửa đổi, bổ sung một số văn bản pháp luật để có quy chế rõ ràng về trách nhiệm cá nhân trong quản lý, điều hành bộ máy, gắn với việc làm rõ chức năng, quyền hạn, kể cả về tổ chức, nhân sự và về kinh phí để củng cố, sắp xếp bộ máy Nhà nước...".
Lủng củng vì sự chòng chéo giữa tòa án với viện kiểm sát, giữa viện kiểm sát với công an. Như đã thấy trong những đoạn trích lục đạo luật về viện kiểm sát, viện kiểm sát cũng có điều tra viên ; trong lúc công an cũng có điều tra viên. Sự nhất trí giữa 2 cơ quan điều tra này chỉ đạt được dễ dàng khi có chỉ thị của đảng cho cả 2 bên.
Lủng củng vì những người phục vụ trong ngành tư pháp như thẩm phán và kiểm sát viên, phần đông dốt nát, không có trình độ, không có kiến thức tối thiểu về luật pháp. Từ đó có những hiện tượng hiểu sai luật, diễn giải luật ngược với ý nghĩa của điều luật, quy chụp cho nghi can những tội danh không chính đáng... Ðây có lẽ là vấn đề lớn đang làm cho dư luận đồng bào trong nước xôn xao, phẫn nộ, khiến trong kỳ họp này của Quốc Hội, Chánh án tòa án nhân dân tối cao Nguyễn Văn Hiện và Viện trưởng viện kiểm sát nhân dân tối cao Hà Mạnh Trí đã bị một số đại biểu chất vấn. Vẫn biết đây cũng là một màn kịch cho ra vẻ dân chủ ; nhưng âu cũng là dịp để người ta có thể nghe được lời biện bác của hai người lãnh đạo cao cấp nhất của ngành tòa án và ngành kiểm sát. Theo báo Nhân Dân điện tử ngày 28/11/2002 thì trong phiên họp ngày hôm trước, "Chánh án Nguyễn Văn Hiện nêu ra một nghịch lý, hiện nay một số tòa án cấp huyện chỉ có một thẩm phán, không đáp ứng được yêu cầu xét xử, do cả nước còn thiếu hơn 1.300 thẩm phán, trong khi đó nhiều sinh viên tốt nghiệp các trường đại học luật lại chưa có việc làm. Ngành tòa án sẽ phối hợp các bộ, ngành có chính sách thu hút sinh viên luật về công tác. Tình trạng xét xử oan sai vẫn còn, trước hết do trình độ, năng lực, phẩm chất của các thẩm phán và hội thẩm nhân dân còn thấp. Trong năm 2002, các tòa án đã xét xử hơn 200 nghìn vụ án, trong đó có 57 vụ oan, sai, Tòa án NDTC đang xem xét để phân loại xử lý và sẽ kiên quyết xử lý kỷ luật các thẩm phán do yếu kém về năng lực, trình độ, phẩm chất đạo đức, tác phong để xảy ra oan, sai nhiều trong quá trình xét xử. Chánh án Tòa án NDTC thừa nhận, tình trạng "chạy án" trong thời gian qua là có, do một số đối tượng ngoài xã hội, kể cả một số người có chức, có quyền can thiệp, ngay cả các nhà báo cũng có biểu hiện chạy án".
Lủng củng vì chính trị lấn áp chuyên môn, lấn áp công lý. Trong nhiều trường hợp xét xử, bản án đã được định sẵn. Nặng nhẹ là do quyết định của đảng từ trung ương hay tại địa phương.
- Thoái hóa trầm trọng :
Thoái hóa là căn bệnh chung của quan chức cộng sản tại Việt Nam hiện nay. Nhưng càng có chức, có quyền, nhất là quyền bắt bớ, truy tố như công an và kiểm sát thì càng có nhiều điều kiện thoái hóa. Trước đây, khi thấy cán bộ công an và kiểm sát làm giàu mau chóng, người ta nghĩ rằng họ nhận hối lộ, đút lót như các quan chức các ngành khác như kinh tế, thương mại, xuất nhập cảnh, vv... Nhưng với vụ án Năm Cam, người ta mới khám phá ra là họ đã cấu kết, hợp tác, ăn chia, bao che, bảo kê và tòng phạm với băng đảng tội phạm xã hội đen. Viện trưởng viện kiểm sát nhân dân tối cao, Hà Mạnh Trí, vừa cho biết "Ðã khởi tố 181 bị can, trong đó có 14 bị can nguyên là cán bộ công an, bốn bị can nguyên là cán bộ kiểm sát...". Tình trạng thoái hóa, hối mại quyền thế không phải chỉ ở cấp thấp và cấp trung trong các lực lượng gọi là "bảo vệ pháp luật" như thượng tá Dương Minh Ngọc, Nguyễn Mạnh Trung, v.v... Nhiều cán bộ cao cấp chóp bu trong trung ương đảng hay trong guồng máy chính quyền và quân đội của chế độ đã dính líu tới vụ Năm Cam như trung tướng Bùi Quốc Huy, ủy viên trung ương đảng, thứ trưởng bộ công an, nguyên giám đốc công an thành phố Sài Gòn ; thiếu tướng Hoàng Ngọc Nhất, thứ trưởng công an ; thiếu tướng Ðỗ Năm, cục trưởng cục quản lý trại giam thuộc bộ công an ; Phạm Sĩ Chiến, nguyên phó Viện Trưởng Viện kiểm sát nhân dân Tối Cao ; Lê Thành Ðạo, phó trưởng Ban Dân vận trung ương, nguyên Viện Trưởng Viện kiểm sát nhân dân Tối Cao. Ðề cập đến vấn đề thoái hóa của cán bộ lãnh đạo của Viện Kiểm Sát Nhân Dân Tối Cao, đương kim Viện Trưởng Hà Mạnh Trí đã biện bác trước Quốc Hội : "Ðể một số cán bộ, kiểm sát viên có vi phạm, phạm tội trong vụ án Năm Cam, là thiếu sót và khuyết điểm lớn của Viện KSNDTC. Mặc dù nguyên nhân chủ yếu là do số cán bộ, kiểm sát viên đã vi phạm và bị xử lý không chịu rèn luyện, tu dưông, còn có những nguyên nhân khác là công tác quản lý cán bộ, đảng viên của Viện KSND các cấp làm chưa tốt ; việc nắm bắt và xử lý thông tin về phẩm chất đạo đức, lối sống của cán bộ còn yếu ; chưa đi sâu, đi sát, xem xét đánh giá kịp thời những biểu hiện có dấu hiệu nghi vấn về kinh tế, về thu nhập của cán bộ".
- Hậu quả tai hại :
Qua những thú nhận của các quan chức cao cấp nhất của ngành tư pháp trong chế độ hiện nay tại Việt Nam thì từ rất nhiều năm nay việc điều tra, xét xử đã được giao cho những người không có kiến thức về luật pháp, thậm chí còn có những người trình độ văn hóa quá thấp kém. Tư cách duy nhất của họ là đảng viên đảng cộng sản. Ngoài ra, trên mọi khía cạnh, họ không hề có tư cách gì buộc tội hoặc xét xử các công dân mà họ truy tố. Ðây là biểu hiện rõ nét nhất của tình trạng nắm quyền lực trong tay là có quyền sinh sát trên người dân lành cô thế. Trên thế giới, hiện tượng này phổ biến dưới thời man di mọi rợ và đã không còn tồn tại nữa từ nhiều thế kỷ nay rồi. Trong phiên họp Quốc Hội vừa rồi, một số đại biểu đã nêu đề nghị : "cần kiện toàn đội ngũ, nâng cao chất lượng xét xử của thẩm phán và hội thẩm nhân dân, chú trọng việc đào tạo mới và đào tạo lại đội ngũ này ; kiên quyết xử lý các trường hợp vì thiếu kiến thức, thiếu phẩm chất mà xét xử oan sai, gây hậu quả xấu đối với người vô tội". Thực chất, nếu vì ngu dốt mà xử án oan sai thì cũng là lẽ tất nhiên. Hiện tượng thiếu đạo đức, thiếu phẩm chất, nhận tiền hối lộ của một bên rồi xử oan cho người vô tội thì cũng là điều dễ hiểu. Nhưng có điều mà cả đại biểu quốc hội, cả chánh án tòa án nhân dân tối cao và viện trưởng viện kiểm sát nhân dân tối cao không hề hoặc không dám đề cập tới là hiện tượng chính đảng cộng sản chỉ thị cho các cơ quan này quy chụp tội danh bịa đặt đối với nhiều "đối tượng" mà đảng muốn giết hại hoặc giam cầm, cô lập lâu dài. Các trường hợp này rất thường xảy ra vì trước khi ra tòa, bản án đã được định sẵn. Bởi ai ? Ngoài bọn quan chức cộng sản, không ai có quyền này ở Việt Nam hiện nay.
Hai trường hợp điển hình vừa xảy ra là trường hợp Lê Chí Quang và ba người cháu linh mục Nguyễn Văn Lý. Bản cáo trạng quy kết anh Lê Chí Quang vào tội nói xấu chế độ, lén lút chuyển tài liệu, bài viết của mình ra nước ngoài, hoàn toàn không có cơ sở. Những điều anh Quang viết còn kém chua chát hơn ký giả Lý Sinh Sự của tờ báo Lao Ðộng trong mục "nói hay đừng". Lật báo chí hàng ngày, nhan nhản những điều thối tha của chế độ. Anh Quang chuyển bài viết qua internet, vốn là hệ thống công khai toàn cầu : không thể vu cho anh là lén lút. Bản cáo trạng gán ghép ba chị em, cháu của linh mục Nguyễn Văn Lý là Nguyễn Thị Hoa, sinh năm 1959 ; Nguyễn Trực Cường, sinh năm 1967 và Nguyễn Vũ Việt, sinh năm 1975, vào tội "gián điệp" vừa nói lên ác ý quy chụp của tập đoàn cộng sản Hà Nội, vừa bộc lộ cái yếu kém, nếu không muốn nói là dốt nát của Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Những điều cáo buộc trong bản cáo trạng không điều nào đứng vững. Miễn sao quy kết được vào một điều nào đó trong bộ "Luật Hình Sự" để kết án là xong việc đối với Viện Kiểm Sát Nhân Dân Tối Cao. Nếu phân tích hai bản cáo trạng và vụ xử án anh Lê Chí Quang vừa qua, người ta còn thấy nhiều điều vô lý chứng tỏ ác tâm của chính quyền cộng sản vu oan cho công dân của họ.
Tình trạng ngành tư pháp Việt Nam có cải tiến không ?
Những vấn đề lớn của ngành tư pháp Việt Nam hiện nay là luật pháp, kiến thức chuyên môn cũng như đạo đức của thẩm phán và viện kiểm sát nhân dân. Phan Văn Khải đã nói phải sửa lại văn bản một số luật. Ðiều này còn phải một thời gian dài mới cải tổ được hệ thống luật pháp của Việt Nam ngày nay. Nhưng vấn đề quan trọng là vẫn còn chưa có được quan niệm "mọi người bình đẳng trước pháp luật". Riêng về phẩm chất thẩm phán và viện kiểm sát thì theo báo Nhân Dân, mới đây "chủ tịch nước Trần Ðức Lương đã ký lệnh công bố Nghị quyết quy định một số điểm về việc thi hành pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm Tòa án nhân dân, Pháp lệnh Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân, đã được ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XI thông qua ngày 4-10-2002".
Những tưởng các nghị quyết của quốc hội mang tính chất luật sẽ chấm dứt tình trạng những người bất tài, vô học ngồi vào ghế xét xử kẻ khác, nhưng khi đọc các bộ luật này thì người ta không khỏi thất vọng. Chỉ cần đọc điều 2 và điều 3 của nghị quyết này thì đủ hiểu tình trạng dốt nát xử án vẫn không thay đổi :
"Ðiều 2 :
1- Các Thẩm phán được bổ nhiệm trước ngày 15 tháng 10 năm 2002 tiếp tục làm
nhiệm vụ cho đến khi hết nhiệm kỳ năm năm, kể từ ngày được bổ nhiệm.
2- Ðối với những Thẩm phán được bổ nhiệm trước ngày 15 tháng 10 năm 2002, khi
xét bổ nhiệm lại tuy chưa có trình độ cử nhân luật, chưa có chứng chỉ đào tạo về
nghiệp vụ xét xử mà có đủ các tiêu chuẩn khác quy định tại Pháp lệnh Thẩm phán
và Hội thẩm Tòa án nhân dân thì vẫn có thể được tuyển chọn và bổ nhiệm lại làm
Thẩm phán nhưng trong nhiệm kỳ mới phải học tập để có trình độ cử nhân luật.
3- Trong trường hợp đặc biệt, người được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền điều
động đến công tác tại ngành Tòa án nhân dân, tuy chưa có đủ thời gian làm công
tác pháp luật, chưa được đào tạo về nghiệp vụ xét xử, nhưng có đủ các tiêu chuẩn
khác theo quy định của Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm Tòa án nhân dân thì có
thể được tuyển chọn và bổ nhiệm làm Thẩm phán.
Ðiều 3 :
1- Các Kiểm sát viên được bổ nhiệm trước ngày 15 tháng 10 năm 2002 tiếp tục làm
nhiệm vụ đến ngày 15 tháng 10 năm 2005.
2- Ðối với những Kiểm sát viên được bổ nhiệm trước ngày 15 tháng 10 năm 2002,
khi xét bổ nhiệm lại tuy chưa có trình độ cử nhân luật, chưa có chứng chỉ đào
tạo về nghiệp vụ kiểm sát mà có đủ các tiêu chuẩn khác quy định tại Pháp lệnh
Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân thì vẫn có thể được tuyển chọn và bổ nhiệm
lại làm Kiểm sát viên nhưng trong nhiệm kỳ mới phải học tập để có trình độ cử
nhân luật.
3- Trong trường hợp đặc biệt, người được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền điều
động đến công tác tại ngành Kiểm sát nhân dân, tuy chưa có đủ thời gian làm công
tác pháp luật, chưa được đào tạo về nghiệp vụ kiểm sát, nhưng có đủ các tiêu
chuẩn khác theo quy định của Pháp lệnh Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân thì
có thể được tuyển chọn và bổ nhiệm làm Kiểm sát viên".
Có thể nói là tình trạng tư pháp của Việt Nam còn lâu lắm mới được cải thiện để những thẩm phán đúng danh, đúng nghĩa ngồi ghế xét xử. Riêng khoản 3 của 2 điều trên cho thấy đảng cộng sản có quyền gửi những người không hề biết gì về luật hay tố tụng vào trong tòa án làm thẩm phán. Ðây cũng là bằng chứng nền tư pháp Việt Nam hoàn toàn bị đảng cộng sản khống chế.
Kết Luận
Thông thường trong một chế độ dân chủ, ba quyền Lập Pháp, Hành Pháp và Tư Pháp được phân định rõ ràng. Tại một vài nước bị độc tài chính trị như ở Miến Ðiện, hay độc tài tôn giáo như ở các nước Hồi Giáo, có sự khống chế lên ngành tư pháp. Ở Việt Nam, sự khống chế đến từ đảng cộng sản. Nhãn hiệu nhân dân gắn vào tòa án, viện kiểm sát, lực lượng công an, vv... chỉ nhằm để lừa bịp và che dấu sự can thiệp, khống chế trực tiếp của đảng trên các ngành này. Tóm lại, từ khâu soạn thảo hiến pháp, làm luật đến áp dụng luật... tất cả đều nằm trong tay đảng cộng sản và đảng đã dành cho mình những điều khoản bảo đảm quyền lực cho họ. Do người của đảng được đưa vào tòa án xét xử trong lúc không có một kiến thức nào về học vấn và luật pháp đã khiến trong hơn nửa thế kỷ nay, có không biết bao nhiêu vụ án oan khiên, không biết bao người đã tán gia bại sản, mất hết danh dự, không biết bao nhiêu người đã mất cả mạng sống của mình... Có thể nói Công Lý và Cộng Sản là đối thủ không đội trời chung. Nhân dân Việt Nam, bao lâu sống dưới chế độ cộng sản, thì còn chưa được hưởng một nền Công Lý đích thực. Có người đã đề nghị đặt lại nhan đề cho bài viết này là "Khi những kẻ ngu ngồi ghế quan tòa". Cũng có lý.
Trần Trọng Nghĩa