Đối Thoại Website: Doi-Thoai.com Email: toasoandoithoai@yahoo.com
|
Việt Nam 2002 : Cháy Nhà Ra Mặt Chuột |
Vụ hỏa hoạn lớn tại Sài Gòn lúc 1 giờ 30 trưa ngày 20/10/2002, thiêu rụi Trung Tâm Thương Mại Quốc Tế, khiến hàng trăm người chết cháy, đã cho người ta thấy rõ tình trạng bất lực của đội lính cứu hỏa, của cơ quan "phòng cháy - chữa cháy", của tập đoàn lãnh đạo chế độ trước một đám cháy, và nhất là sự bất lực của họ trước những vấn đề lớn trên lãnh vực xã hội hiện nay tại Việt Nam.
CÒN nhớ khi xưa, đã có người quả quyết, Ðội Cứu Hỏa của Ðô Thành Sài Gòn được xếp hạng thứ ba sau Ðội San Francisco và Luân Ðôn. Nếu đã từng chứng kiến những người lính cứu hỏa Việt Nam trước 1975 trên những chiếc xe "vòi rồng" xuất phát từ doanh trại của họ trên đường Trần Hưng Ðạo, hụ còi inh ỏi --mà nghệ sĩ Trần Văn Trạch đã nhân cách hóa tiếng còi đó thành "cháy to ! cháy to !"-- lao tới những vùng hỏa hoạn, bất chấp hiểm nguy của thần hỏa, của súng đạn như hồi loạn Bình Xuyên 1955 và 2 đợt tấn công Tết Mậu Thân 1968, thì chắc chắn ai cũng phải hãnh diện về đội lính cứu hỏa Ðô Thành. Hai mươi bảy năm sau, những người lính chữa lửa hào hùng khi xưa không còn nữa, phần bị đi tù đày, phần bị đuổi ra khỏi ngành vì quá khứ "ngụy", phần vì đã quá tuổi về hưu... Hai mươi bảy năm sau, vẫn những trang bị cũ đã lỗi thời, hư hỏng, không được bảo trì, thay thế ; những người lính chữa lửa thuộc Bộ Công An chỉ biết đứng nhìn đám cháy, nhìn những nạn nhân nhảy từ lầu 5, lầu 6 xuống đất. Người Việt Nam có câu "Cháy nhà ra mặt chuột".
Vụ cháy này đã khiến cho nhiều con chuột cống, chuột chù lãnh đạo chế độ xuất đầu lộ diện. Nhưng ở Việt Nam trong năm 2002 không phải chỉ có vụ cháy Trung Tâm Thương Mại Quốc Tế là vụ cháy điển hình có lửa, có khói. Tòa nhà chế độ xã hội chủ nghĩa đã bị rất nhiều đám cháy : các tệ đoan xã hội, vụ xã hội đen Năm Cam, các vụ buôn lậu, các vụ tham nhũng động trời, các vụ nông dân biểu tình khiếu kiện... Ðầu năm 2003, thử duyệt lại các vụ cháy do chính các cán bộ lãnh đạo của chế độ là thủ phạm để ước đoán xem tương lai hậu vận của chế độ cộng sản Hà Nội như thế nào ?
Hỏa Hoạn
"Cháy nhà mới ra mặt chuột". Sau vụ cháy tại Trung Tâm Thương Mại Quốc Tế nằm ngay giữa thành phố Sài Gòn với hàng trăm người chết và hàng trăm người khác bị thương, dư luận đồng bào và cả báo chí của chế độ đều bàn tán xôn xao. Chính sau vụ cháy này mới lòi ra những chuyện động trời trong cái "Cục Cảnh Sát Phòng Cháy - Chữa Cháy" trực thuộc bộ Công An. Ðồng bào chứng kiến vụ cháy đã thấy rất rõ là đội cứu hỏa bất lực, không có đủ phương tiện, hoặc phương tiện quá cũ kỹ, hư hỏng để làm nhiệm vụ cứu người, chữa cháy. Tinh thần hy sinh truyền thống của người lính cứu hỏa trên thế giới --"khi người ta tán loạn chạy ra thì chúng tôi ồ ạt chạy vào"-- cũng không thấy hiện hữu trong tập thể những người mệnh danh lính chữa lửa này. Một số báo chí của chế độ cũng đăng tải những hiện tượng quái dị trong vụ cháy này. Ðiển hình, dân chúng ai cũng thấy chiếc xe cứu hỏa mang số 38 thuộc đội 12 cứu hỏa thành phố đã chết máy cách hiện trường khoảng 3 cây số. Xe không có máy liên lạc vô tuyến và tài xế đã phải chạy vào nhà dân gọi nhờ điện thoại về đơn vị cầu cứu vì xe hết nhiên liệu ( !). Hơn nửa giờ sau người ta mới mang lại 2 can dầu, nhưng xe vẫn không nổ máy được vì không bơm được dầu lên máy. Trung tá Lê Tấn Bửu, Phó trưởng phòng cứu hỏa thành phố Sài Gòn thú nhận rằng trên nguyên tắc, mỗi buổi sáng lực lượng cứu hỏa đều phải kiểm tra các phương tiện, mỗi xe cứu hỏa phải đảm bảo còn ít nhất 2/3 nhiên liệu để sẵn sàng hoạt động khi cần thiết. Thế nhưng dân chúng ai cũng biết xe cứu hỏa đã bị hút xăng đem ra bán, nên khi xảy ra chuyện thì... không có xăng để hoạt động. Dư luận đồng bào rất bất bình về sự tắc trách của chính quyền cộng sản. Vì vậy đã có một cuộc họp báo dưới quyền chủ tọa của Phó chủ tịch ủy ban Nhân Dân thành phố Sài Gòn là Nguyễn Thành Tài để giải thích. Ðiều mà tập đoàn cầm quyền tại Sài Gòn không ngờ là càng giải thích thì Nguyễn Thành Tài càng tiết lộ những chi tiết kinh thiên động địa : Hồ chứa nước để chữa cháy tại Trung Tâm Thương Mại Quốc Tế chứa được 10 mét khối, tức chỉ đủ nước để sử dụng trong vòng ... 10 giây ! Trung tá Lê Tấn Bửu còn cho biết vì không có những trụ bơm nước trên đường phố, nên xe cứu hỏa phải chạy ra tận sông Sài Gòn lấy nước. Trong cuộc họp báo còn có Cục Trưởng Cục Cảnh Sát Phòng Cháy - Chữa Cháy là Bùi Văn Ngần, quân hàm đại tá. Ông này tiết lộ là trong 101 xe chữa lửa của thành phố hiện nay, có tới 68 xe đã quá cũ, quá thời hạn sử dụng. Trong 3 xe thang cấp cứu thì 1 chiếc đã hơn 40 năm tuổi, tức là từ thời Việt Nam Cộng Hòa để lại. Về nhân sự thì ông Lê Tấn Bửu cho biết, hiện có 600 cảnh sát cứu hỏa. Nhưng về trang bị chống lửa để lực lượng này thi hành nhiệm vụ như mặt nạ, bình dưỡng khí đeo vai, áo chống lửa hiện chỉ có vỏn vẹn 20 bộ...
Từ những năm trước 1975, một trong những hiểm họa luôn đe dọa thành phố Sài Gòn là hỏa hoạn. Nhất là trong mùa khô mà cao điểm là dịp Tết Nguyên Ðán. Vì vậy mối ưu tư của Ðô Thành thời đó là phòng hỏa và cứu hỏa. Dù trong chiến tranh, đội lính cứu hỏa luôn được trau dồi, huấn luyện kỹ thuật ; trang bị luôn luôn được tu bổ và mua mới. Qua vụ cháy vừa rồi, người ta thấy rõ nhà cầm quyền cộng sản không lưu tâm gì đến vấn đề quan trọng này. Thêm vào đó, từ những năm gần đây, với chính sách phát triển thành phố bừa bãi, mạnh ai nấy xây, chiếm dụng lề đường gây trở ngại lưu thông và nhất là bít lối cho xe cứu thương, cứu hỏa tới các cao ốc cư dân hay thương mại. Theo những số liệu chính thức của nhà cầm quyền Sài Gòn đưa ra thì thành phố này hiện có trên dưới 7 triệu dân cư sống trong khoảng 1 triệu căn nhà, trong đó có 476 tòa nhà chung cư và trên 80 cao ốc văn phòng. Phóng viên Trần Phan đã viết trên tờ Lao Ðộng ngày 4/11/2002 : "Theo thống kê chưa đầy đủ, hiện thành phố có 40 điểm nóng là khu nhà cao tầng thuộc các trung tâm thương mại, siêu thị, cư xá, vũ trường... có nguy cơ cháy cao. Và, nếu cháy, số người thiệt hại sẽ rất nhiều vì lối thoát hiểm gần như không có... Ông Mai Quốc Bình - Phó Chủ tịch Ủy Ban Nhân Dân thành phố cho rằng, những nhà cao tầng, trung tâm đều tận dụng tối đa mặt bằng để kinh doanh, trong khi đó lại thiếu kiểm tra Phòng Cháy Chữa Cháy nên khi phát hỏa sẽ gây hậu quả nghiêm trọng".
Sau vụ cháy Trung Tâm Thương Mại Quốc Tế, đã còn xảy ra nhiều vụ cháy khác trên cả nước. Theo báo Lao Ðộng, tại Hà Nội, ngày 3/11/2002, lúc 14 giờ 30 đã xảy ra vụ cháy lớn tại kho chứa máy móc của công ty Nam Cường (phường Vĩnh Tuy, quận Hai Bà Trưng), thiêu rụi hàng ngàn thiết bị máy móc diesel, ôtô... Tờ báo viết tiếp : "Khoảng gần 2 giờ sau đám cháy đã được dập tắt hoàn toàn. Theo Ban quản lý Công ty, ước tính thiệt hại hàng tỉ đồng". Tại Kiên Giang, chính quyền địa phương đã cho báo chí hay tin là có 46 khu chợ và 117 khu dân cư có nguy cơ cháy rất cao. Trung tá Nguyễn Ðình Hậu, trưởng phòng cảnh sát phòng cháy chữa cháy tỉnh thông báo : "Chỉ trong 9 tháng qua, trên địa bàn tỉnh xảy ra 28 vụ cháy (không kể vụ cháy 2.400 ha rừng nguyên sinh ở Vườn Quốc Gia U Minh Thượng), gây thiệt hại 1,5 tỷ đồng."
Tai Nạn Giao Thông
Theo tin tức báo chí và thống kê của chế độ thì từ nhiều năm nay, tai nạn giao thông mỗi năm một gia tăng. Riêng năm 2002 vừa qua, con số đã lên đến mức báo động khiến cho chính quyền cộng sản Việt Nam qua Ủy Ban An Toàn Giao Thông Quốc Gia đã phải tổ chức một Hội Nghị tại Hà Nội vào ngày 20/12/2002 vừa qua. Hội Nghị này đã thống kê từ đầu năm đến ngày 20/12 trên cả nước đã xảy ra 28.071 tai nạn giao thông làm thiệt mạng 13.174 người và gây thương tích cho 38.970 người khác. Trong báo cáo trước Quốc Hội mới đây, Phan Văn Khải cũng đã phân tích một số lý do : "Mấy năm nay, tai nạn giao thông tăng nhanh, ách tắc giao thông xảy ra thường xuyên ở các đô thị lớn, thể hiện sự lạc hậu và non kém trong công tác tổ chức và quản lý giao thông, quản lý đô thị, đi liền với thái độ coi thường và hành động vi phạm luật lệ giao thông đã trở thành một thói quen trong nếp sống của dân cư. Tình hình đó không những gây thiệt hại lớn về người, về của, về thời gian, mà còn tạo ra môi trường thiếu an toàn, mất trật tự, làm hoen ố hình ảnh đất nước và con người Việt Nam". Du khách tới Sài Gòn, ai cũng phải than phiền về tình trạng giao thông trong thành phố. Xe cộ chạy như mắc cửi. Băng qua đường an toàn là một kỳ công. Cách đây ít năm, đường phố Sài Gòn chỉ gồm rất đông xe gắn máy và xe đạp. Nhưng từ vài năm trở lại đây, số lượng xe hơi cũng đã gia tăng rất nhiều. Theo Phan Văn Khải thì phải rút kinh nghiệm xe gắn máy mà hạn chế bớt xe hơi để tránh bị nạn kẹt đường hàng tiếng đồng hồ. Nguyên nhân của sự gia tăng tai nạn xe cộ ở Việt Nam có thể kể : thứ nhất là xe quá cũ, nhất là xe tải và xe chở hành khách ; khối lượng xe cộ quá lớn ; đường sá, cầu cống hư hỏng ; tình trạng dân chúng và nhất là cán bộ không tôn trọng luật lệ lưu thông, đó là không kể những cuộc đua xe gắn máy của thanh thiếu niên ; tình trạng cảnh sát giao thông ăn hối lộ... Phan Văn Khải đã chỉ thị : "Ðảng viên, đoàn viên, hội viên, công nhân, viên chức, học sinh phải gương mẫu chấp hành luật lệ giao thông và đi đầu trong việc sử dụng phương tiện công cộng thay cho xe máy. Ở các thành phố lớn, cấp ủy Ðảng và chính quyền phải coi cuộc vận động này là một công tác trọng tâm cần chỉ đạo chặt chẽ, liên tục, bền bỉ". Cũng như vấn đề hỏa hoạn, vấn đề tai nạn giao thông đã từng được chính quyền cộng sản Hà Nội nhắc nhở nhiều lần. Nhưng đâu vẫn hoàn đấy.
Ngộ Ðộc Thực Phẩm.
Năm 2002 cũng là năm con số người ngộ độc vì thức ăn cao hơn hẳn những năm trước. Mới đây, ngày 11/12/2002 Bộ Y Tế của chế độ đã tổ chức một Hội Nghị gọi là để tổng kết 3 năm về "Tăng cường công tác bảo đảm chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm". Tại hội nghị này, thứ trưởng Y Tế Trần Chí Liêm cho biết, mỗi năm tại Việt Nam xảy ra từ 250 đến 500 vụ ngộ độc thực phẩm với từ 3 đến 4 ngàn nạn nhân, trong đó có khoảng 200 người thiệt mạng. Con số mà thứ trưởng y tế này công bố thuộc diện ngộ độc tập thể, liên quan đến nhiều người trong cùng một khung cảnh địa dư. Không kể những trường hợp ngộ độc lẻ tẻ. Hội nghị này cũng phân tích nguyên nhân và cho biết, có từ 33% đến 49% trường hợp ngộ độc do nhiễm trùng ; 11% đến 27% do hóa chất ; từ 6% đến 25% do "chất độc tự nhiên" ; số còn lại, không xác định được nguyên nhân. Người ta cũng ghi nhận là trong năm 2002 này, tỷ lệ ngộ độc vì thực phẩm nhiễm hóa chất có chiều hướng gia tăng. Hội nghị nói trên thông báo là trong 9 tháng đầu năm đã có tới 27% số vụ ngộ độc là do hóa chất độc hại. Tiến sĩ Phan Thị Kim, Cục Trưởng Cục Quản Lý Chất Lượng Vệ Sinh An Toàn Thực Phẩm than phiền là hiện chưa có luật lệ thống nhất về vệ sinh an toàn thực phẩm. Các văn bản quy định chưa đồng bộ và chòng chéo nhau. Các doanh nghiệp sản xuất thực phẩm đã không thực hiện đúng cam kết về chất lượng ghi trong hồ sơ cũng như trên bao bì mà không có văn bản nào quy định biện pháp chế tài. Cũng theo nhân vật này thì trong kinh doanh các loại thuốc chống sâu rầy, nhất là những loại thuốc kịch độc bị cấm sử dụng tại các nước khác, các nhà sản xuất thuốc chống côn trùng vẫn tiếp tục nhập cảng lậu vào Việt Nam. Cũng phải kể trong kỹ nghệ chế biến thực phẩm, nhiều nhà sản xuất đã dùng những hóa chất độc hại để pha chế như đã từng bị các cơ quan kiểm nghiệm ngoại quốc phát hiện chất formol trong bánh phở, thuốc rầy trong rượu, vv... Trong khi đó, các hàng quán ăn uống mọc lên như nấm trong điều kiện thiếu vệ sinh trầm trọng khiến tình trạng ngộ độc do ăn uống ngày càng nhiều Hơn thế, tại Việt Nam hiện nay, người ta chỉ điều trị những trường hợp ngộ độc đưa vào bệnh viện. Việc phòng ngừa, kiểm soát thực phẩm không được chú tâm. Khi đã xảy ra ngộ độc rồi thì trong chính quyền cũng chẳng có ai chịu trách nhiệm cả.
Tham nhũng từ trên xuống dưới.
Từ hơn chục năm nay tệ nạn tham nhũng đã hoành hành trên đất nước Việt Nam chúng ta. Chính quyền cộng sản càng hô hào, càng đưa ra chính sách, biện pháp, nó càng phát triển. Nó đã khiến cho lòng dân căm phẫn sinh ra phong trào khiếu kiện, nó đã biến thể thành sự cấu kết giữa đảng và chính quyền từ những cấp bộ cao nhất với các băng đảng xã hội đen để khai thác, bóc lột người dân... Cả đảng lẫn chính quyền cộng sản đã hoàn toàn bất lực và đã phải nhờ đến chuyên gia Thụy Ðiển điều nghiên giúp đỡ "chống tham nhũng". Ðây là một đám cháy khổng lồ giống như đám cháy Trung Tâm Thương Mại Quốc Tế ở Sài Gòn trước sự bất lực của lính cứu hỏa, đang thiêu rụi căn nhà xã hội chủ nghĩa.
Phong trào khiếu kiện.
Tệ trạng cán bộ đảng và Nhà Nước ỷ quyền, ỷ thế cướp bóc đất đai, tài sản của nhân dân đã diễn ra từ nhiều năm nay rồi. Nhiều người đã từng đóng góp to lớn cho đảng cộng sản và đã từng được kể vào thành phần "có công với cách mạng", như "gia đình liệt sĩ", "mẹ chiến sĩ", vv... Những người này mạnh dạn hơn ai hết, đã đâm đơn khiếu nại. Sau đó, cả những người dân thường hay những đối tượng tôn giáo cũng nhập giòng đấu tranh đòi đất đai, nhà cửa. Hiện đơn khiếu kiện còn chất cao như núi ở các cơ quan mệnh danh là "tiếp dân". Có đơn khiếu nại chung chung là chính quyền địa phương đã cướp tài sản ruộng vườn và đòi bồi thường. Nhưng cũng đã thấy xuất hiện những đơn tố cáo đích danh những tên cán bộ cộng sản cường hào ác bá. Lúc đầu những người khiếu kiện đã nộp đơn tại địa phương. Nhưng, nhận thấy lãnh đạo địa phương ém nhẹm đơn từ của đồng bào, người dân đã "vượt cấp", kéo nhau lên tận trung ương đảng và Nhà nước cộng sản tại Hà Nội đệ đơn. Nhiều người đã vượt hàng ngàn cây số từ Ðồng Bằng Sông Cửu Long đến bao vây nhà các quan chức chóp bu của chế độ, biến thành những cuộc biểu tình với đầy đủ biểu ngữ. Trong các đoàn biểu tình, người ta chú ý đến một toán tu sĩ thuộc Ðan Viện Thiên An, Huế trong áo dòng, tới tận Hà Nội khiếu kiện về việc chính quyền Thừa Thiên-Huế chiếm đất nhà dòng làm nơi trụy lạc.
Trong lúc cộng sản Hà Nội đang nỗ lực lừa gạt dư luận thế giới thì hình ảnh của những người khiếu kiện đứng trước trụ sở Quốc Hội, trụ sở đảng cộng sản và tư gia các quan chức lãnh đạo chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến khuôn mặt của chế độ trước con mắt các quan sát viên và đại diện ngoại giao quốc tế. Vì thế mà Ban Bí Thư trung ương đảng đã ra chỉ thị ngày 6/3/2002 "Về một số vấn đề cấp bách cần thực hiện trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo hiện nay". Tuy có chỉ thị trung ương nhưng hiện tượng "trên bảo dưới không nghe" vẫn tiếp diễn và trong báo cáo trước Quốc Hội, Phan Văn Khải đã phải thú nhận : "Tình hình khiếu nại, tố cáo của dân vẫn tiếp diễn phức tạp, tiềm ẩn những nhân tố gây mất ổn định ; vẫn còn nhiều vụ khiếu kiện đông người, gay gắt, vượt cấp lên Trung ương".
Nguyên nhân của phong trào nhân dân khiếu kiện rầm rộ trong những năm vừa qua là tham nhũng, tham nhũng khắp mọi nơi, tham nhũng dưới mọi hình thức kể cả cướp đoạt. Tuy đã dấu diếm, bao che cho đồng đảng, Phan Văn Khải đã phải báo cáo là trong năm 2002, các cơ quan chức năng đã thụ lý 197.686 vụ án tham nhũng ; nhưng điều lạ lùng là chỉ có 280 vụ với 669 bị cáo bị đưa ra xét xử về tội danh tham nhũng. Chính các đại biểu Quốc Hội cộng sản Hà Nội cũng phải than rằng con số vừa kể là "hết sức khiêm nhượng" so với thực tế.
Vụ án Năm Cam
Có thể lúc đầu, việc khui vụ án Năm Cam là để đáp ứng nhu cầu thanh toán giữa các phe quyền lực trên thượng tầng lãnh đạo cộng sản Hà Nội ; nhưng càng khui thì càng dính líu đến toàn bộ hệ thống chóp bu. Ðược xả cảng, báo chí đua nhau bơi móc và loan tin ào ạt. Vì thế mà hiện nay người dân đã biết có sự cấu kết của các cán bộ cao cấp của Viện Kiểm Sát Nhân Dân Tối Cao, ngành công an và cả ngành truyền thông với băng đảng Trương Văn Cam, tự Năm Cam. Lãnh đạo cộng sản đã chỉ thị cho báo chí phải thận trọngkhi loan tin để tránh"ô nhiễm ngay trong nhà". Tuy vậy, những cơ quan ngôn luận chính thức của đảng cũng không thể không đề cập. Trên Tạp Chí Xây Dựng Ðảng số tháng 8/2002, Lê Ðức Bình đã phải viết : "Quá trình điều tra mở rộng vụ án Năm Cam cho thấy một số cán bộ, đảng viên thoái hóa biến chất đã đồng lõa, bênh vực, bao che, chạy tội cho tên trùm xã hội đen Năm Cam và đồng bọn...". Những cán bộ đảng viên này là ai ? Chính Lê Ðức Bình đã thú nhận trên tờ Tạp Chí : "Số cán bộ, đảng viên này là những người có chức có quyền trong bộ máy hành pháp và tư pháp, trong một số cơ quan báo chí, ở phường, quận, thành phố cho tới cơ quan Trung ương, có cán bộ cấp thấp và cán bộ cấp cao, có những cán bộ, đảng viên xuất thân từ thành phần cơ bản đã từng lập được những thành tích công tác và chiến đấu trong quá khứ chưa xa". Cụ thể, những cán bộ này là : Trần Mai Hạnh, ủy viên Trung Ương, Tổng giám đốc "Ðài tiếng nói Việt Nam" ; Bùi Quốc Huy, ủy viên Trung Ương, trung tướng Thứ trưởng Bộ Công An ; Phạm Sĩ Chiến, Phó Viện trưởng Viện Kiểm Sát Nhân Dân Tối Cao ; Hoàng Ngọc Nhất, Thứ trưởng Bộ Công An ; Trung tá công an Dương Minh Ngọc, trưởng phòng Cảnh Sát Hình Sự thành phố HCM ; Nguyễn Thập Nhất, Trưởng phòng Kiểm sát giam giữ - cải tạo thuộc Viện Kiểm Sát Nhân Dân thành phố Hà Nội ; thượng tá Nguyễn Mạnh Trung, Phó phòng Ðiều tra xét hỏi (PC 16 Công an TPHCM)... Ngoài ra cũng phải kể đến khoảng trên dưới 200 cán bộ với chức vụ thấp hơn trong ngành công an và Viện Kiểm Sát Nhân dân thuộc 14 tỉnh và thành phố.
Trước đây, có tin "vụ án Năm Cam" sẽ được mang ra xét xử vào cuối năm 2002 ; nhưng nay thì lại có tin khác là phiên tòa sẽ chỉ diễn ra sau Tết (hy vọng không phải tết Congo).
Trong những ngày cuối năm 2002 đã có một số hiện tượng đáng chú ý trong vụ án này khiến người dân nghĩ rằng đảng và chính quyền cộng sản Hà Nội đang dàn dựng vở tuồng xử án để gỡ án cho đồng đảng. Hiện tượng thứ nhất là vụ luật sư Nguyễn Cẩm, Hải Phòng, được gia đình mời biện hộ, nhưng lại bị Năm Cam từ chối để chọn luật sư Nguyễn Ðăng Trừng do Tòa Án chỉ định ! Hiện tượng thứ nhì là hãng thông tấn AP mới đây đã viện dẫn báo Tuổi Trẻ trích đăng lời tuyên bố của Phó Tổng cục trưởng cục Cảnh Sát Việt Nam là thiếu tướng Lê Thành, theo đó thì sẽ còn có một số quan chức cao cấp nữa trong chính phủ sẽ bị truy tố vì dính líu tới vụ án Năm Cam. Ngay sau đó, ngày 2/12 vừa qua, phó thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã tuyên bố với báo chí : "Thông tin ông Thành nói là không đúng sự thật, không có cơ sở. Theo những gì cá nhân tôi cũng như Bộ Chính Trị được báo cáo, đặc biệt là khi đọc Cáo trạng chuyên án Năm Cam và đồng bọn, làm gì thấy có quan chức nào khác dính đến vụ án này đâu. Chính phủ đã yêu cầu cơ quan chức năng làm rõ việc phát ngôn này. Nếu ông Thành nói, ông Thành phải chịu trách nhiệm trước pháp luật vì đưa tin không đúng sự thật".
Nếu không có vụ đấu đá nội bộ đưa đến sự kiện khui ra vụ án Năm Cam thì có lẽ dân ta còn lâu mới biết được mặt thật của những vị "đạo cao đức trọng, cán bộ cách mạng, đầy tớ nhân dân" này. Nhưng người dân Việt Nam đã có quá nhiều kinh nghiệm với đảng cộng sản, nên họ biết chắc thủ phạm của vụ án này không phải chỉ có ngần ấy người, và ở Việt Nam cũng không phải chỉ có một vụ án Năm Cam.
Hàng lậu tràn ngập thị trường
Cũng trong năm 2002, vụ buôn lậu khổng lồ ở Hang Dơi, Lạng Sơn bị phanh phui. Thực chất, cũng như vụ Năm Cam, chính quyền cộng sản Hà Nội và nhất là ngành công an cũng như kiểm soát kinh tế đều biết rõ từ nhiều năm nay rồi. Sở dĩ trước đây họ không khui ra vì họ có những điều "tế nhị", "phức tạp" dính líu tới nhiều quan chức gộc trên thượng tầng của đảng. Vì thế, tuy hàng lậu tràn ngập thị trường, nhưng chế độ vẫn chủ trương bưng bít. Do ảnh hưởng tai hại đến nền kinh tế và sản xuất nội địa không cạnh tranh nổi hàng lậu, và nhất là có sự khuyến cáo của các định chế tài chánh quốc tế có mặt tại Việt Nam, cộng sản Hà Nội mới phải bắt đầu "mặt trận chống lậu". Báo chí được lệnh điều tra và viết về buôn lậu. Nhưng sau khi làm rùm beng vụ Hang Dơi, thì còn không biết bao nhiêu là "đường dây buôn lậu" khác nữa suốt dọc biên giới Trung Cộng, biên giới Lào và biên giới Cam Bốt. Hàng lậu không những được vận chuyển bằng đường bộ đi qua các trạm kiểm soát của công an biên phòng hay kiểm soát kinh tế một cách công khai vì đã "lót đường", mà còn bằng đường thủy và đường hàng không. Bọn buôn lậu còn lộng hành là dám đánh trả các lực lượng "chống lậu" để giải vây hàng bị bắt. Báo chí trong nước cho biết hàng lậu gồm rượu, thuốc lá, vải vóc bày bán la liệt trong dịp Noel vừa qua. Thị trường hàng lậu hứa hẹn còn tấp nập hơn nữa trong dịp Tết Quý Mùi sắp tới.
Ðảng cộng sản vẫn tự nhận mình là đảng tiên phong của giai cấp công nhân, lao động. Nhưng thật sự giai cấp đổ mồ hôi ra để làm nên của cải cho xã hội đang bị đảng cộng sản phản bội một cách trắng trợn. Người ta thấy rõ điều này ít nhất là trong 2 hiện tượng : Thứ nhất là chính quyền đã toa rập với bọn chủ nhân tư bản ngoại quốc bó lột sức lao động và tiền lương của công nhân. Thứ nhì là tình trạng đem con bỏ chợ trong dịch vụ "xuất khẩu lao động".
Ðể tranh thủ đầu tư của những tài phiệt Á Châu, chính quyền đã dành cho họ nhiều sự dễ dãi trên mặt hành chánh kể cả việc kìm kẹp công nhân. Trong năm 2002 đã diễn ra gần 100 cuộc đình công lớn nhỏ của công nhân để đòi hỏi quyền lợi của họ. Hầu hết các cuộc đấu tranh của công nhân đều xuất phát từ sự đòi hỏi chủ nhân phải trả lương tương xứng với giờ giấc lao động của công nhân, phải ký hợp đồng lao động, phải đối xử nhân đạo với công nhân. Sở dĩ có những cuộc tranh đấu của công nhân là vì phần lớn các xí nghiệp đầu tư ngoại quốc gốc Á Châu đã chỉ trả lương "học nghề", "thử việc" cho công nhân, mặc dù thời gian học việc đã hết từ lâu. Cụ thể trong cuộc đình công của trên 700 công nhân làm cho công ty dệt may Lộc Ích tại Sài Gòn hôm 11/12/2002 vừa qua, một nữ công nhân đã cho biết : "Chúng em biết thực chất mình làm việc cho người Ðài Loan, lẽ ra lương tối thiểu phải là 45 USD, nhưng ở đây sau... "3 tháng thử việc" với mức lương 291 nghìn đồng, công nhân chỉ được hưởng lương chính thức là 391 nghìn đồng". Thêm vào đó, bọn tài phiệt này đã bắt công nhân làm tăng nhiều giờ trong một ngày mà không chịu trả tiền lương phụ trội. Nữ công nhân này còn cho biết thêm : "suốt nhiều tuần nay, ngày nào công nhân cũng phải tăng ca đến 21g30 (kể cả chủ nhật) với cường độ vô cùng căng thẳng, nhưng thu nhập lại tụt xuống còn 300 - 500 nghìn đồng/ người ! Giải thích việc này, ông Cao cho rằng công ty chuyển đổi phương thức trả lương theo khoán sản phẩm, công nhân không đạt định mức thì phải làm thêm buổi tối, vì thế công ty không trả phụ trội !". Ðiều khiến công nhân vô cùng bất mãn là bọn chủ nhân thường áp dụng hình phạt "trừ lương" công nhân. Ðiển hình, theo báo Lao Ðộng thì trong cuộc đình công của 207 công nhân thuộc công ty sản xuất và thương mại Quang Lợi, chuyên dệt và bán hàng gấm tại Sài Gòn, "Công nhân nào nghỉ một ngày bị trừ 40 nghìn đồng tiền chuyên cần, còn công nhân làm tăng ca chủ nhật chỉ được hưởng 23 nghìn đồng...". 40 ngàn đồng là 1/10 lương tháng của công nhân ! Làm thêm 1 ngày mà lương không những không cao hơn lương một ngày, lại còn thấp hơn nữa. Ai không chấp nhận làm thì sẽ bị trừ lương hay đuổi việc. Cũng nên nhắc là trong năm 2002, tại công ty này đã xảy ra 3 cuộc đình công mà tình trạng vẫn không cải thiện. Nhưng phải nói vụ 20 đốc công của công ty Ðài Loan Doanh Ðức ở Bình Dương dùng ống sắt đuổi đánh hàng trăm công nhân ngay ngoài công ty vì họ dám đình công ngày 26/11/2002 vừa qua, dưới sự chứng kiến và bảo vệ bọn hung đồ của chính quyền và công an địa phương, là vụ gây nhiều căm phẫn nhất trong giới công nhân và đồng bào trong cũng như ngoài nước.
Dưới áp lực của các cơ chế tài viện quốc tế, cộng sản Hà Nội đang phải bóp bụng dẹp bớt khu vực kinh tế quốc doanh làm ăn thua lỗ. Số công nhân bị sa thải sẽ lên đến cả triệu người. Thêm vào đó, thị trường lao động hàng năm có thêm 1,5 triệu thanh niên đến tuổi lao động. Vì vậy công nhân nhiều khi phải cắn răng chịu khó, chịu nhục để giữ lấy việc làm. Ðể giải quyết nạn "lao động dư dôi" và "thất nghiệp, thiểu dụng" cộng sản Hà Nội đã tận lực khai thác dịch vụ "xuất khẩu lao động". Hiện nay Hà Nội đã xuất khẩu công nhân sang hàng chục nước trên thế giới như Ðài Loan, Ðại Hàn, Nhật Bản, các nước Trung Ðông, Mã Lai vv... Ngay tại Việt Nam mà bọn tài phiệt ngoại quốc đã hành hạ công nhân bất chấp luật pháp thì trên ngay xứ sở của họ, công nhân Việt Nam đã trở thành một bầy nô lệ không hơn, không kém. Cộng sản Hà Nội chỉ chú trọng tìm thị trường để bán mồ hôi và nước mắt của công nhân. Sau đó họ rửa tay theo đúng chủ trương "sống chết mặc bây, tiền thày bỏ túi". Nhiều công nhân đã phải xin về nước, bỏ giở hợp đồng tuy biết rằng khi về thì không thể nào có khả năng trả được nợ đã vay để đút lót cho bọn tham nhũng trước khi đi và tiền thế chân. Các khoản tiền này lên đến cả chục ngàn đô la.
Nếu chỉ nghe báo cáo của các quan chức của đảng và chính quyền cộng sản Việt Nam thì người ta không thể biết được thực trạng xã hội Việt Nam trong năm 2002 vừa qua. Vụ cháy có lửa, có khói tại Sài Gòn vừa qua khiến hàng trăm người thiệt mạng cho thấy sự thật của ngành "phòng cháy chữa cháy". Chính quyền cộng sản chỉ biết "rút kinh nghiệm" qua lời phát biểu của Lê Thanh Hải - Chủ tịch UBND thành phố : "Ðây là một bài học đau xót của thành phố. Sau khi theo dõi và nghiên cứu những vấn đề lớn của Việt Nam hiện nay, người ta thấy rõ là đàng sau mỗi tệ đoan, tệ nạn làm băng hoại xã hội, làm khốn khổ người dân, bao giờ cũng có bóng dáng một số cán bộ đảng và chế độ cộng sản. Chỉ có cháy nhà thì mới lòi ra mặt chuột. Chỉ khi nào phá vỡ bức màn bưng bít bao che, bảo vệ chế độ, người ta mới thấy rõ chân tướng của những quan chức cộng sản, vốn bản chất là thoái hóa, bất lương, tham ô, nhũng lạm. Trên nền tảng băng hoại này, đảng cộng sản không thể có một tương lại bền vững được".
Trần Trọng Nghĩa