Báo chí Việt Nam thú nhận, Ngân Hàng Thế Giới (WB) mới đây lại khuyến cáo rằng việc chi tiêu ngân sách "mặc dù có kế hoạch cụ thể nhưng tình trạng lãng phí, lạm dụng chi tiêu công quỹ đã và đang có những tác động không tốt..." Như vậy, cho dù chế độ này có còn tồn tại được thì kho bạc nào cũng phải cạn kiệt. Các thế hệ mai sau sẽ phải còng lưng trả nợ cho sự phung phí của tập đoàn cộng sản Việt Nam hiện nay.
Mối lo thường xuyên hàng năm của các chính phủ, bất kể giàu nghèo, trên thế giới là làm thế nào cân bằng được ngân sách. Các nước giàu họ còn lo, huống hồ các nước nghèo lạc hậu. Nhất là trong thời đại toàn cầu hóa ngày hôm nay, biên giới quốc gia không còn ngăn cản được vốn liếng, tiền bạc di chuyển từ nước này sang nước khác với vận tốc chóng mặt, thì việc chi thu ngân sách là một bài toán làm nhức đầu những người cầm đầu chính phủ. Việt Nam dưới chế độ cộng sản hiện nay được kể vào những nước "đang mở mang", còn cần viện trợ và vay nợ các nước khác hay các cơ chế tài chánh quốc tế. Thế nhưng, theo báo chí trong nước thì, thay vì phải có những chương trình tiết kiệm, các cơ quan chính phủ đang lãng phí ngân sách một cách vô tội vạ. Để biết thêm về sự mâu thuẫn này, cần tìm hiểu phương cách tập đoàn quan chức cộng sản đục khoét công quỹ, tiền đâu mà họ lãng phí như thế và hậu quả của sự lãng phí này đối với tương lai đất nước.
Lãng phí và thất thoát ngân sách
Tờ báo Lao Động điện tử số 3, ngày 3/1/2003 cho biết, phóng viên của họ túc trực tại trước "Kho Bạc" Hà Nội địa chỉ ở số 15A Trần Khánh Dư trong những ngày cuối năm 2002, đã ghi nhận "quang cảnh giống như nơi diễn ra các cuộc hội họp tổng kết cuối năm với rất đông người ra vào tấp nập và hàng đoàn xe ôtô, đa phần mang biển số xanh (xe nhà nước) đỗ chật kín lòng đường". Theo tờ báo này thì các ông, các bà quan chức nhà nước đã tấp nập tới ngân khố để rút nốt số tiền ngân sách còn chưa chi tiêu hết trong năm 2002. Nhân viên kho bạc tiết lộ rằng họ đến để "chạy vốn". Lý do tờ báo đưa ra là, theo "Luật Ngân sách Nhà nước, số vốn đã ghi kế hoạch cho các đơn vị nếu trong năm không tiêu hết sẽ bị hủy bỏ chứ không được chuyển sang cộng dồn vào kế hoạch của năm tiếp theo". Như trong một cuộc hỏa hoạn, người ta ôm tiền bạc "chạy" thần hỏa, quan chức cộng sản cũng đổ xô tới kho bạc "chạy vốn" ngân sách. Hiện tượng này, theo các nhân viên của ngân khố trung ương Hà Nội, đã trở nên quen thuộc và diễn ra thường xuyên hàng năm vào cuối tháng 12. Vào dịp cuối năm, lượng công tác của nhân viên tại đây tăng lên gấp bội. Có nhiều ngày họ đã phải thanh toán bằng tiền mặt cũng như chuyển ngân những số tiền khổng lồ, lên đến 700 - 800 tỷ đồng, tức là gia tăng từ 4 đến 5 lần so với những ngày tháng trước đó.
Vấn đề nhũng lạm đã nhiều lần được các cấp lãnh đạo đề cập đến như một tệ nạn. Họ chỉ nói đến "lãng phí" và "thất thoát" công quỹ, ngân sách để che dấu hành vi biển thủ của quan chức Nhà Nước. Thực vậy, đợi lúc năm cùng tháng tận, các cơ quan đồng loạt nộp hàng đống chứng từ chi tiêu ngân sách để đòi thanh toán, thì dù có "thiên thủ thiên nhãn" cũng không thể nào kiểm tra, kiểm soát cho hết được. Nhất là những chứng từ đó liên quan đến những món tiền khổng lồ hàng tỷ đồng. Đây chẳng qua cũng là một trong trăm phương ngàn kế để đục khoét công quỹ. Một vài thí dụ đã được báo chí phanh phui như "Có những đơn vị vừa sửa chữa xong trụ sở đã lại làm quyết toán xin sửa chữa mới, vừa thay mới toàn bộ bàn, ghế đã có quyết toán xin thay mới nữa..." Tóm lại, các cơ quan đã "tìm đủ mọi cách để có thể tiêu cho hết số tiền đã được ghi theo năm kế hoạch, mặc dù nếu theo đúng như thực tế thì chẳng còn cái gì phải chi nữa".
Thực chất thì hiện tượng này không hẳn như báo chí nhà nước mô tả. Quan chức cộng sản không nộp chứng từ để chạy vốn, tức là để lấy tiền thực hiện những công trình, dù là phí phạm, không cần thiết của cơ quan mình mà là để bỏ túi riêng. Chính các bộ phận "thanh tra tài chánh" của Hà Nội cũng thú nhận đã phanh phui nhiều "đơn vị sử dụng vốn ngân sách đã tìm cách gian dối qua việc lập chứng từ khai khống phần khối lượng công việc đã hoàn thành để rút trước vốn về". Điều này có nghĩa là công trình chưa hoàn tất, thậm chí chưa khởi công thì đã có chứng từ làm xong để rút tiền ngân khố. Việc làm gian lận chứng từ không phải một mình cơ quan hưởng ngân sách có thể làm được. Nó phải là sự cấu kết rộng rãi giữa cơ quan chủ nhân công trình, nhà thầu, các đơn vị thanh tra công trình cũng như tài chánh và cả ngân khố là nơi chi tiền. Đây là cả một hệ thống chằng chịt nhằm đục khoét ngân khố quốc gia, nhất là vào dịp công việc dồn dập cuối năm, rất khó mà kiểm soát, phanh phui, phá vỡ. Những số tiền khổng lồ, không phải hàng tỷ mà hàng trăm, hàng ngàn tỷ đồng đã được tháo khoán cho những "công trình ma" trong những ngày năm cùng tháng tận đã tạo nên tình trạng mà tờ báo Lao Động đã mô tả như sau : "Điều này đã dẫn đến tình trạng lãng phí và thất thoát ngân sách là không thể kể xiết". Để minh chứng cho cái "không kể xiết" này, báo Lao Động số 306, ra ngày 15/11/2002 đã nêu một trường hợp điển hình : "Phát biểu thảo luận trong ngày làm việc thứ hai của Quốc hội (13.11), đại biểu Tôn Thất Bách nói rằng ông đã không khỏi giật mình khi nhìn vào bản báo cáo ngân sách năm 2001 bởi lẽ chênh lệch giữa dự toán và quyết toán quá lớn, tới 800 lần". Chắc không có một quốc gia nào mà sự chênh lệch ngân sách cho một công trình của một cơ quan nhà nước lại lên đến con số kỷ lục này. Nếu có thì cũng không một nhà nước nào chấp thuận giải ngân. Nhưng ở Việt Nam, sự kiện này đã xảy ra, chứng tỏ có sự thông đồng đục khoét ngân khố giữa đủ mọi thành phần trong chính phủ. Tờ báo còn kể tiếp về đàn bò lai giống "sind" của Sở Nông Nghiệp & Phát triển nông thôn tỉnh Quảng Bình. Theo báo cáo để xin ngân sách, sở này cho biết hiện đàn bò đã phát triển và có 10.659 con bò. "Nào ngờ qua cuộc điều tra vừa tiến hành mới té ngửa khi phát hiện rằng tổng đàn bò lai sind toàn tỉnh chỉ có xấp xỉ 2.000 con, chưa bằng 1/5 số báo cáo...". Thực chất ngân sách hàng tỷ đồng để nuôi bò lai đã được sử dụng ; nhưng chỉ có gần 2000 con bò thật ăn cỏ, còn hơn 8000 con bò hai chân ăn tiền.
Về lãng phí ngân sách, cũng còn cần phải nói đến những "Doanh Nghiệp Nhà Nước" mà ta thường gọi là quốc doanh nổi tiếng thế giới về làm ăn thua lỗ. Riêng tại tỉnh Đồng Tháp, tổng cộng các doanh nghiệp do các đỉnh cao ngu xuẩn của đảng CSVN quản lý đã nợ ngân hàng Eximbank đến 200 tỷ đồng. Không phải chỉ có tỉnh Đồng Tháp mà trên cả nước có đến hàng chục ngàn công ty, xí nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ kiểu quăng tiền ra đường. Các cơ chế tài chánh quốc tế đã nhiều lần yêu cầu cộng sản Hà Nội phải dẹp bỏ quốc doanh, nhưng tập đoàn lãnh đạo vẫn chưa chịu làm.
Tóm lại, để chứng tỏ với các nước cho vay và viện trợ cũng như các cơ chế tài chánh quốc tế, là chính quyền có nỗ lực sử dụng ngân sách một cách hợp lý, Hà Nội cũng đưa ra một vài sự kiểm tra, kiểm soát như đã thấy ở đàn bò Quảng Bình. Nhưng những "lãng phí", "thất thoát" ngân sách mà báo chí đề cập đến to lớn hơn rất nhiều, nhiều đến nỗi "không kể xiết".
Tiền ngân sách lấy từ đâu ra ?
Thu nhập của chính quyền cộng sản Hà Nội đến từ 4 nguồn gốc : tổng sản lượng nội địa (GDP), thuế má, viện trợ và tiền bạc do người Việt hải ngoại gửi về.
Tổng sản lượng quốc gia
Cũng cần lưu ý là cộng sản Hà Nội thường không phổ biến nhiều con số liên quan đến nền kinh tế. Nhiều con số không đúng với thực tế. Tuy nhiên, dựa trên những gì họ phổ biến và sự quan sát của các cơ chế quốc tế, người ta cũng tạm có một khái niệm về cái nền kinh tế XHCN của cộng sản Hà Nội. Từ khi chuyển nền kinh tế xã hội chủ nghĩa (XHCN) sang hướng thị trường và mở cửa buôn bán với các nước khác, tổng sản lượng đã có chiều hướng tăng trưởng rõ rệt từ đầu thập niên 1990. Cao điểm của sự tăng trưởng lên đến 9,5% vào những năm 1995, 1996 khiến Hà Nội đã tưởng sẽ trở thành rồng thành hổ Á Châu. Mức tăng trưởng sau đó mỗi năm mỗi giảm, nhất là sau vụ khủng hoảng kinh tế, tài chánh trong vùng. Hiện nay mức tăng trưởng của Việt Nam ở vào mức trên dưới 5%. Mặt khác, GDP cũng bị chi phối bởi nền xuất nhập cảng. Trong những năm gần đây, nhất là sau vụ khủng hoảng tiền tệ tại Á Châu, thị trường xuất cảng của Việt Nam đã bị thu hẹp lại trong vùng với nhiều lý do khác nữa như sức cạnh tranh yếu, không tìm kiếm thêm được các thị trường mới. Hiệp định hợp tác thương mại ký kết với Mỹ chưa được đưa áp dụng toàn diện thì đã gặp những khó khăn. Trong lúc đó, mức độ nhập cảng hàng hóa và dịch vụ lại rất cao. Nếu lấy con số của năm 2000 thì tổng trị giá xuất cảng của Việt Nam là 11,67 tỷ mỹ kim (kể cả dầu thô và gạo), trong lúc nhập cảng là 13,51 tỷ mỹ kim. Nhìn vào con số này thì cũng đủ thấy ngành xuất nhập cảng không đóng góp gì được cho GDP. Vì thế từ lợi tức đầu người 200 mỹ kim cách đây 10 năm, ngày hôm nay con số GDP trung bình đầu người mới nhất là con số của năm 2000 và là 380 mỹ kim/năm. Bên cạnh những con số này, còn phải kể đến những món nợ quốc tế. Hiện Việt Nam nợ ngoại quốc 22,4 tỷ mỹ kim. Nếu đem so sánh giá trị xuất cảng hàng năm với nợ nuớc ngoài thì tổng số tiền thu được qua xuất cảng chỉ bằng xấp xỉ 1/9 số nợ. Dưới sự lãnh đạo của đảng CSVN, tình trạng kinh tế này không có chiều hướng khá hơn vì hiện nay nạn thất nghiệp trong nước lên đến 20% dân số trong tuổi lao động cộng thêm 40% khác thiểu dụng.
Trên những cơ sở này, người ta thấy là nền kinh tế quốc gia hay GDP không giúp gì nhiều được cho ngân sách quốc gia. Chế độ phải lấy tiền ở chỗ khác.
Thuế má
Một trong những nét đặc trưng của các chế độ xã hội chủ nghĩa, kể cả chế độ xã hội tây phương, là dựa vào thuế khóa để làm ngân sách. Đầu năm ngoái, Phan Văn Khải với tư cách thủ tướng chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 06/2002 về việc tăng cường quản lý và chống thất thu ngân sách nhà nước năm 2002. Nôm na, đây là lệnh của chính phủ cho các quan chức ngành thuế vụ phải tích cực thu thuế của dân. Bản văn nói rõ : "các bộ, ngành và địa phương vừa phải tập trung chỉ đạo đẩy mạnh phát triển sản xuất kinh doanh, đồng thời phải có biện pháp tổ chức, chỉ đạo quản lý thu ngân sách nhà nước quyết liệt ngay từ những ngày đầu tháng đầu năm". Chế độ thuế má dưới sự thống trị của cộng sản tại Việt Nam đã được mô tả là rất hà khắc và nặng nề đối với nông dân và những nhà sản xuất. Trên lãnh vực nông nghiệp chẳng hạn, thuế suất được quy định một cách máy móc, dựa theo sự đánh giá chủ quan của cán bộ địa phương, bất chấp thời tiết được mùa hay mất mùa. Nhiều nông dân tuy mất trắng thời vụ mà vẫn phải vay mượn để đóng đủ thuế cho những thu hoạch tưởng tượng. Có rất nhiều loại thuế khóa mà người dân phải gánh chịu. Vào năm 1999, bắt chước các nước phát triển, Hà Nội đã đưa ra một loại thuế mới đối với người dân Việt Nam. Đó là thuế "trị giá gia tăng" (VAT), đánh trên tất cả các mặt hàng tiêu thụ. Theo đánh giá của các cơ quan tài chánh quốc tế thì việc áp dụng loại thuế mới này là một sự thất bại cho công quỹ và chỉ tạo điều kiện cho các quan chức tham nhũng.
Điều đáng lưu tâm ở đây là nếu nông dân và những người làm ăn buôn bán bị khốn khổ vì sưu cao thuế nặng thì một số lớn quan chức nhà nuớc, cơ quan nhà nước đã lậu thuế một cách quy mô. Vụ án Mai Văn Huy ở Đồng Tháp là một điển hình của sự cấu kết giữa bị cáo với một lũ cán bộ từ tỉnh ủy, chủ tịch Ủy Ban Nhân Dân đến những quan chức cấp thừa hành để gian lận thuế nhập khẩu xăng dầu trong nhiều năm. Theo báo chí của chế độ thì tập đoàn cán bộ tỉnh Đồng Tháp đã "gây thiệt hại cho Nhà nước gần 40 tỷ đồng" do buôn lậu 45.000 tấn xăng dầu !
Thượng bất chính thì hạ tất loạn. Trên thượng tầng, ủy viên bộ chính trị hét ra lửa, mửa ra khói mà còn cấu kết với băng đảng xã hội đen làm điều phi pháp thì người dân dại gì mà không đi buôn lậu. Những vụ như Hang Dơi, Thác Ném, Lao Bảo, An Giang vv... và nhiều đường dây buôn lậu khác đã được chính các cán bộ thuế vụ và chính quyền địa phương bảo kê khiến thuế nhập khẩu và thuế trị giá gia tăng bị thất thu lên đến những con số thất kinh.
Tóm lại tuy thuế khóa là một trong những nguồn cung cấp ngân sách nhà nước ; nhưng vì bộ máy cộng sản bất lương nên cũng không thu được là bao.
Viện trợ và tín dụng
Hơn 1/4 thế kỷ đã trôi qua sau khi chấm dứt chiến tranh mà tập đoàn lãnh đạo cộng sản vẫn không biết nhục mà kể lể với thế giới về tình trạng đói nghèo của đất nước. Họ đã lợi dụng chiêu bài "xóa đói, giảm nghèo" để ngửa tay xin viện trợ hay đi vay mượn các nước trên thế giới và những cơ chế tài chánh quốc tế như Ngân Hàng Thế Giới (WB), Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế (IMF), Ngân Hàng Phát Triển Á Châu (ADB) và Chương Trình Liên Hiệp Quốc về Phát Triển (UNDP). Mỗi năm, hàng chục phái đoàn chính thức của nhà nước đã đi cầu viện ở các nước trên thế giới. Năm ngoái, Hà Nội đã phát động một đợt tấn công ngoại giao và đi xin viện trợ với những khuôn mặt cao cấp nhất của chế độ. Nông Đức Mạnh đã đi Nhật để xin Tokyo tiếp tục viện trợ ODA (viện trợ phát triển chính thức) trong khi các nhà đầu tư Nhật bản đang gặp khó khăn do chính quyền Hà Nội gây ra và đã phải đóng cửa các xí nghiệp lắp ráp xe gắn máy tại Việt Nam. Cũng nên nhắc lại, Nhật là nước giúp đỡ, viện trợ nhiều nhất cho Hà Nội từ năm 1992 (220 triệu US$), năm 1993 (435 triệu US$). Trong chuyến sang Nga sau đó, Nông Đức Mạnh cũng xin Nga cho mượn dài hạn 100 triệu mỹ kim để xây 2 nhà máy phát nhiệt điện. Người ta còn nhớ vào đầu năm ngoái, Hà Nội đã phải xin khất món nợ 1,7 tỷ mỹ kim mà Nga đã cho mượn để tiến hành chiến tranh thôn tính miền Nam. Biết chắc rằng Hà Nội không có khả năng trả ngay, Mạc Tư Khoa đã thỏa thuận cho Hà Nội trang trải trong vòng 23 năm. Trong chuyến đi Pháp, Trần Đức Lương cũng đã xin thêm viện trợ. Pháp hiện là nước ngoài Á Châu đã viện trợ nhiều nhất cho Hà Nội. Trong năm 2001, Paris đã cung cấp cho cộng sản Việt Nam 72 triệu euros tiền viện trợ. Thêm vào đó, năm 1994 Pháp đã xóa cho Hà Nội món nợ 1,2 tỷ quan Pháp (200 triệu US$) và cho khất món nợ khác trị giá 1,03 tỷ quan. Tại Hội Nghị Hợp Tác Kinh Tế Á Châu Thái Bình Dương (APEC) họp tại Mexico, Phan Văn Khải cũng làm cái việc ngửa tay xin tiền. Qua lời Khải, thì Việt Nam cần đến 60 tỷ mỹ kim vốn đầu tư từ năm 2001 đến năm 2005. Tại Hội Nghị này, Hà Nội đã ve vãn Úc Đại Lợi và được thủ tướng nước này hứa "dành nguồn tài trợ lớn cho Việt Nam, giúp Việt Nam xây dựng cơ sở hạ tầng, xóa đói, giảm nghèo, phát triển nông thôn, đào tạo cán bộ...".
Hiện nay, nhiều món nợ quốc tế đáo hạn mà Hà Nội chưa có khả năng thanh toán. Nợ nần và viện trợ tuy rất cần để chế độ có tiền sống còn, nhưng nó không đều đặn và nhất là nó không phải là không có ràng buộc. Điều kiện các nước tặng viện trợ (donnors) đặt ra, chủ yếu chỉ có 2 điều mà Hà Nội với bản chất XHCN và độc tài, khó có thể chấp thuận. Hai điều kiện đó là phải giải tư các công ty, xí nghiệp quốc doanh và tôn trọng Nhân Quyền. Biết vậy, nhưng Hà Nội không còn cách nào hơn là phải tiếp tục đi xin viện trợ và vay mượn quốc tế.
Tiền người Việt hải ngoại gửi về thân nhân
Mới đây, Báo Đầu Tư của Hà Nội cho biết là theo thống kê của "Ngân Hàng Nhà Nước", lượng kiều hối của năm 2002 sẽ đạt hơn 2 tỷ mỹ kim. So với năm 2001, con số này vượt gần 20%. Như vậy, từ nhiều năm nay, số tiền do đồng bào sinh sống tại hải ngoại đã gửi về nước hàng năm khoảng trên dưới 2 tỷ đô la, tương đương với 10% GDP.
Người Việt ở nước ngoài hiện nay lên đến trên dưới 3 triệu người, bao gồm đại đa số là những người tỵ nạn cộng sản và một số không ít khoảng hơn 300 người là lao động hợp tác ở các nước cộng sản Đông Âu còn sót lại và những người mới được chế độ đưa ra đi làm ở các nước kỹ nghệ trong chương trình xuất khẩu lao động. Đối với đồng bào tỵ nạn, cộng sản Hà Nội không thể kìm kẹp, bắt chẹt, nên họ đã lợi dụng tình tự dân tộc, tình cảm gia đình, đồng thời tạo những điều kiện chuyển tiền dễ dãi để khuyến dụ họ gửi ngoại tệ về cho thân nhân. Những người này do đã ra nước ngoài lâu năm và đã thành đạt trên xứ người nên khả năng kinh tế cao. Nhưng đối với những người đang ở Đông Âu và những công nhân lao động xuất khẩu, họ còn ở dưới sự khống chế của cộng sản Hà Nội. Họ có nhiều khoản tiền phải nộp cho các đại sứ quán, tương tự như những loại thuế. Không kể những khoản tiền đút lót cho bọn quan chức tại các tòa đại diện mỗi lần phải đổi hay gia hạn hộ chiếu, xin giấy tờ hộ tịch vv...
Tóm lại, dù là khuyến dụ hay bắt buộc thì kết quả hàng năm, cộng sản Hà Nội chắc chắn có được một khoản tiền lớn hơn cả viện trợ của các quốc gia hay các cơ chế tài chánh quốc tế mà lại không bị bất cứ một thứ ràng buộc hay điều kiện gì.
Hậu Quả Của Sự Lãng Phí Ngân Sách
Lãng phí ngân sách quốc gia là một hiện tượng khá phổ biến tại các nước trên thế giới. Người ta nhận thấy, ở các nước càng nghèo, kém mở mang, đáng lẽ cần phải "thắt lưng buộc bụng", áp dụng chính sách tiết kiệm, hiện tượng này càng phổ biến và càng có những tầm vóc to lớn. Tại những nước kỹ nghệ phát triển như ở Pháp, khi đảng Xã Hội lên nắm chính quyền lần đầu năm 1981, những đảng viên xã hội gồm nhiều trí thức, tin tưởng vào sách vở xã hội chủ nghĩa nên đã muốn mang ra áp dụng. Họ đã thiết lập những kế hoạch quy mô, đòi hỏi nhiều ngân sách. Nhưng đã có những công trình to lớn thực hiện xong rồi không sử dụng được và đã bị bỏ phế. Thậm chí sau đó hàng chục năm, muốn phá hủy cũng không có tiền phá hủy. Ý chí muốn áp dụng cho bằng được một chủ thuyết chỉ đẹp trên giấy tờ, đã khiến cho nước Pháp lãng phí hàng tỷ đô la. Người ta đã phải giật gấu vá vai, lấy tiền từ những quỹ, những kho dự trữ để bù đắp vào sự chi tiêu của chính phủ vào những công trình không thực tế, nếu không muốn nói là vô ích.
Biển thủ công quỹ
Đề cập vấn đề lãng phí ngân sách của nước Pháp, thời kỳ đảng Xã Hội cầm quyền, trong khuôn khổ bài viết này, không có nghĩa là muốn biện hộ cho sự lãng phí ngân sách của chế độ cộng sản ở Việt Nam. Hai trường hợp khác nhau cả về hiện tượng lẫn về bản chất.
Tại Pháp, vì "duy ý chí" mà quan chức đảng xã hội trong chính quyền đã nhất định thực hiện những công trình ghi trong giáo điều của họ. Họ có lý tưởng tổ chức xã hội theo kiểu của họ. Nói cách khác sự chi tiêu ngân sách quốc gia do họ quản lý xuất phát từ thành tâm thiện chí muốn làm cho xã hội tốt hơn là thời kỳ hữu phái và tư bản nắm chính quyền. Những công trình do họ thực hiện có được xây dựng lên và còn đó, tuy rằng nhiều công trình vô bổ, vô ích.
Tại Việt Nam sự kiện khác hẳn và mang một tầm vóc "vĩ đại hơn". Vì chủ trương và lập trường giai cấp, coi "trí, phú, địa, hào" là 4 giai cấp thù nghịch, phản động phải tiêu diệt hoặc loại ra khỏi chính quyền, nên tuyệt đại đa số cán bộ đảng và Nhà Nước, trong một thời gian dài, bao gồm những người không có khả năng điều hành guồng máy quốc gia. Chữ đọc còn chưa thông, làm sao giải quyết được những bài toán kinh tế của đất nước. Thêm vào đó, đảng CSVN đã bơm vào đầu họ những tư tưởng cướp đoạt. Cướp đoạt chính quyền về cho đảng, cướp đoạt tài sản kẻ thù nhân dân về cho đảng... Từ bị tiêm nhiễm tư tưởng "cách mạng" này, con người cộng sản đã biến chất thành những kẻ tham lam. Chính lòng tham vô đáy cộng với sự ngu dốt đã là nguyên nhân của sự lãng phí ngân sách ở Việt Nam. Lãng phí không phải là làm thí nghiệm những công trình vô ích mà là để bỏ vào túi riêng. Không thể gọi là lãng phí được, mà phải gọi là biển thủ công quỹ. Lại nghĩ tới những nơi dân cư nghèo khổ như ở các "vùng sâu, vùng xa" trên cao nguyên, chỉ cần 1 chục ngàn đô la là đủ xây một trường học, một trạm xá. Trong lúc đó, bọn quan chức cộng sản đã biển thủ hàng trăm triệu đô la. Thật là bất nhẫn.
Vay mượn vô tội vạ
Bản chất người cộng sản là vọng ngoại, là trông chờ vào "tình đoàn kết keo sơn của các nước XHCN anh em". Cộng sản Việt Nam cũng không ngoại lệ. Họ được dạy "làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu". Những gì mình thiếu thì "các nước anh em" sẽ chia cho. Trong chiến tranh bành trướng chủ nghĩa, họ đã thấy súng đạn, trang bị, lương thực và cả tiền bạc họ sử dụng đến từ Liên Xô, Tiệp Khắc, Trung Cộng... Chỉ sau ngày thôn tính được miền Nam, họ mới được "các nước anh em" cho biết, đó là nợ và phải trả. Liên Xô là nước chủ nợ lớn nhất của cộng sản Việt Nam. Đáng lẽ đây phải là một bài học cho tập đoàn lãnh đạo cộng sản Hà Nội. Không ai, dù là các "nước anh em XHCN", lấy của cải mồ hôi nước mắt của dân họ cho không Việt Nam. Chính với tư tưởng vọng ngoại và sẵn sàng làm tay sai ngoại bang mà tập đoàn lãnh đạo Hà Nội đã không ngần ngại đi lạy lục những nước mà trước đây họ mạt sát, để ngửa tay xin viện trợ, xin cho vay dài hạn...
Trong hoàn cảnh toàn cầu hóa hiện nay, hơn bao giờ hết, các nước tư bản tìm cách mở rộng thị trường cho riêng mình, vốn liếng tư bản đã vượt qua mọi biên giới quốc gia. Họ càng dễ dàng cho vay mượn để có điều kiện khống chế. Nhận đồng tiền viện trợ của nước ngoài là mất đi phần nào sự tự chủ, độc lập của mình. Trong quan hệ ngoại giao với các nước, cộng sản Hà Nội thường nhắc đến câu "quan hệ hữu nghị trên cơ sở tôn trọng chủ quyền của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng và cùng có lợi". Thực chất, ở thời đại ngày hôm nay, các nước trên thế giới kể cả Nga, Mỹ cũng không thể hoàn toàn độc lập. Xu thế thời đại là sự "liên lập" giữa các quốc gia trong bối cảnh toàn cầu hóa. Nhưng nếu tự mình chấp nhận sự chi phối của ngoại bang qua nhận viện trợ, qua vay mượn thì các nước giàu, nước lớn họ cũng chẳng ngần ngại để chi phối, sai khiến.
Trong 4 nguồn tài chánh cho ngân sách, xin viện trợ, vay mượn và đợi tiền đồng bào hải ngoại là quan trọng hơn cả GDP và thuế khóa. Chế độ Hà Nội hiện nay đang phải đối phó với nhiều vấn đề nan giải trên mặt kinh tế, xã hội trong nước. Nạn thất nghiệp chiếm 20% với hàng năm 1,5 triệu thanh niên đến tuổi lao động nhảy vào thị trường lao động. Đó là không kể 40% thiếu việc làm trong nông nghiệp... Không thể giải quyết bằng cách xuất khẩu lao động, bán dân ra nước ngoài đi làm nô lệ như chế độ đang làm, mà phải tạo công ăn việc làm cho họ ngay trong nước. Vừa gia tăng sản xuất, vừa phát triển kinh tế. Muốn làm được việc này, phải có ngân sách. Hiện các kho quỹ đều đã bị quan chức đục khoét cạn kiệt. Biện pháp hay nhất vẫn là vẽ ra những công trình xây dựng cơ sở hạ tầng quy mô như đường xe điện ngầm, cầu vượt qua thành phố vv... để được sự viện trợ và vay mượn của quốc tế. Để sống còn, bao nhiêu cũng vay. Vay để giải quyết vấn đề xã hội, vay để có tiền đục khoét. Các thế hệ Việt Nam tương lai sẽ phải còng lưng trả nợ !
Kết luận
Cuối năm ngoái, các bộ phận tài chánh cộng sản Việt Nam đã tổ chức trong 2 ngày 24 và 25/12/2002, tại Hà Nội, "Hội nghị triển khai nhiệm vụ tài chính và dự toán ngân sách nhà nước năm 2003". Hội nghị này đã đề cập đến trên 500 trường hợp cán bộ trong ngành bị thi hành kỷ luật vì tham ô lãng phí và đưa ra chính sách "đề cao kỷ luật, kỷ cương tài chính, chống thất thu ngân sách, thực hành tiết kiệm và chống lãng phí". Những biện pháp này không phải chỉ có trong cái Hội Nghị này, mà nó đã được nói đến từ lâu. Các ông lãnh đạo đã nói, nhân dân cũng nói. Nhưng đâu vẫn hoàn đó. Người trong nước nói lái rằng : "Các ông cán bộ này đều là Nguyễn Như Vân", nói lái lại là "Vẫn Như Nguyên". Để chấm dứt tệ nạn coi ngân sách quốc gia như của riêng, chi ngân sách quốc gia như chi tiền của mình, không thể dùng pháp luật mà xét xử được. Lý do là pháp luật do cộng sản làm ra và vẫn bao che cộng sản. Biện pháp trong sạch hóa chế độ chỉ còn một cách duy nhất là phải thay thế hoàn toàn những sâu mọt cộng sản đang đục khoét và làm trống rỗng các kho quỹ của quốc gia.
Trần Trọng Nghĩa