Nếu người phát ngôn của cộng sản Việt Nam chỉ lên tiếng phản đối dự luật "Tự Do Thông Tin Cho Việt Nam 2003"của hai dân biểu Hoa Kỳ thì đó cũng chỉ là chuyện thường tình trong quan hệ ngoại giao quốc tế. Nhưng từ đó đến việc bắt bác sĩ Nguyễn Ðan Quế vì ông phát biểu về vấn đề này, cộng sản Hà Nội đã chứng minh sự trái ngược giữa thực tế với những điều ghi trên Hiến Pháp của họ.
CHủ trương của mọi chế độ độc tài, nhất là độc tài cộng sản tại Việt Nam là phải tiêu diệt bằng mọi cách những nguồn thông tin không do đảng phát ra để giữ độc quyền ngôn luận, độc quyền tuyên truyền. Không những họ cấm tư nhân và các tập thể, kể cả các tôn giáo nằm trong bàn tay kềm kẹp của chế độ không được có phương tiện truyền thông riêng biệt ; mà họ còn tìm cách ngăn cấm người dân trong nước không được nghe các đài phát thanh nước ngoài, không được đọc báo nước ngoài, bằng cách một mặt cấm nhập nội những sản phẩm văn hóa ngoại quốc, một mặt ra sức phát nhiễu nhằm phá sóng của các đài ngoại quốc. Ðối với nền văn minh thế giới, những điều họ làm là vi phạm tự do thông tin, tự do tiếp nhận và phân phối thông tin. Hành động này trái với những quyền căn bản của con người đã được ghi trong Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc mà họ đã đặt bút ký kết tôn trọng. Hành động này cũng đi ngược lại những điều họ đã ghi trong Hiến Pháp của họ. Về phía họ, họ ngụy biện cho hành động của họ là để bảo vệ nhân dân trước những nền văn hóa đồi trụy, những tuyên truyền thù nghịch... trong lúc chế độ của họ cho người dân được dư thừa tự do. Vì thế khi các dân biểu Hoa Kỳ đệ trình dự án HR 1019, họ đã cực lực lên án. Chúng ta thử nghiên cứu dự luật HR 1019 của Hoa Kỳ và lý do khiến Hà Nội phản đối, đồng thời tìm hiểu xem ở Việt Nam có những quyền tự do thông tin như người phát ngôn của chế độ tuyên bố hay không.
Trước những thiệt thòi của người dân các chế độ cộng sản, độc tài bị tước đoạt quyền được thông hiểu sự thật, thế giới đã tìm cách thông tin hướng về các nước đó. Trong quá khứ, đài Âu Châu Tự Do đã vượt bức màn sắt đem thông tin vào cho các nước cộng sản Ðông Âu. Ngày nay, Ðài Á Châu Tự Do (RFA) cũng đang tiếp tục sứ mạng cao quý, cung cấp thông tin hướng vào các nước độc tài như Trung Quốc, Việt Nam, Miến Ðiện, Lào và Bắc Hàn. Nhưng, các nước này đều có chung một sách vở, có cùng một chính sách, chủ trương bưng bít thông tin. Họ đã tìm đủ mọi cách để phá sóng của các đài tự do để người dân không thể bắt nghe được. Vì vậy các đài phát thanh này đã luôn luôn phải tìm cách cải thiện, gia tăng hiệu năng phát sóng của mình để có thể vượt qua bức màn nhiễu sóng. Các đài này thường là của tư nhân, dù có sự trợ cấp của các chính phủ cũng không thể tự sức định nổi với phương tiện quốc gia của các chế độ độc tài cộng sản. Tình trạng Ðài Á Châu Tự Do cùng các đài ngoại quốc khác bị phá sóng tại Việt Nam đã khiến cho những người đấu tranh cho lý tưởng dân chủ, tự do trên thế giới quan tâm, lo ngại. Vì thế tại Hoa Kỳ, dân biểu Ed. Royce thuộc đảng Cộng Hòa đang cầm quyền và dân biểu Zoe Lofgren thuộc đảng Dân Chủ đối lập đã đệ trình Hạ Viện liên bang một dự luật mang tên "Tự Do Thông Tin tại Việt Nam 2003" (The Freedom of Information in Vietnam Act of 2003) được mang số ký danh HR 1019.
Theo bản tin ngày 27/02/2003 từ văn phòng dân biểu Ed Royce thì "Nhằm ngăn cản luồng tự do thông tin và những nguồn tin tức khác vào trong đất nước, chính phủ Việt Nam cộng sản đã phá sóng của đài Á Châu Tự Do từ năm 1997". Như vậy, "Việt Nam là một trong một số quốc gia đã thách đố các tiêu chuẩn hoàn vũ bằng cách ngăn chặn tự do thông tin". Về nội dung bản dự luật, ban tin nói rõ "Dự luật có mục đích tăng cường hiệu năng phát sóng của đài Á Châu Tự Do. Dự luật nhằm cung cấp thêm nguồn trợ cấp cho đài để có thêm một máy phát để đối phó với sự phá sóng của chính phủ Việt Nam, đồng thời gia tăng giờ phát thanh từ 2 giờ lên 4 giờ mỗi ngày". Ông Ed Royce tin tưởng rằng "Với đạo luật này, đài RFA sẽ có thêm khả năng để đem những tin tức khách quan, nhất là sự thật tới cho dân tộc Việt Nam". Ông lý luận rằng đài RFA có một vai trò quan trọng trong việc phổ cập những giá trị dân chủ trong vùng Á Châu ; nếu không thì chính quyền cộng sản Hà Nội đã chẳng bỏ rất nhiều công sức để phá sóng của đài. Song song với vấn đề đài phát thanh, dự luật của ông Ed Royce cũng đề cập đến mạng lưới internet. Dự luật đưa ra kế hoạch tiên khởi, phối hợp với Văn Phòng Phát Thanh Quốc Tế của Hoa Kỳ để chống lại nạn phá hoại và kiểm soát mạng internet bởi chính quyền Việt Nam. Ông nói : "Ngày càng nhiều người lên mạng internet. Ðó là nguồn tin tức và thông tin liên quan đến chính trị, tôn giáo, kinh tế nội địa và quốc tế 24 giờ trên 24 giờ. Chế độ độc tài cộng sản Việt Nam biết rõ nếu không hạn chế việc lên mạng internet thì đây mối đe dọa đối với chính sách đàn áp của họ. Vì thế họ đã ra sức ngăn cản người ta vào internet".
Có một vài điểm mang nhiều ý nghĩa đáng chú ý trong việc dự luật HR 1019 đuợc đệ trình Quốc Hội Hoa Kỳ :
Ðiểm thứ nhất : Xét về nội dung của dự luật HR 1019, người ta thấy mục tiêu của nó chủ yếu là nhằm vào chính phủ Hoa Kỳ, phải gia tăng ngân sách cho đài RFA để tăng cường làn sóng phát thanh, thực hiện thêm máy móc và nghiên cứu thiết lập hệ thống internet bất khả xâm phạm, không ai có thể phá hay ngăn cản sự tự do vào internet được. Ở đây cũng cần nói thêm là trong thể chế dân chủ tại các nước, đặc biệt là tại Hoa Kỳ, mọi sự chi tiêu của chính phủ, ngoài ngân sách đã được chấp thuận, phải được Quốc Hội quyết định bằng một đạo luật và chính phủ có bổn phận thi hành đạo luật đó.
Ðiểm thứ nhì : dự luật này không do một dân biểu hay một đảng soạn thảo và đề nghị. Nó là sự hợp tác giữa hai đảng Cộng Hòa (đa số) và Dân Chủ (thiểu số) trong Quốc Hội Liên Bang Hoa Kỳ qua dân biểu Ed Royce (Cộng Hòa) và Zoe Lofgren (Dân Chủ). Thông thường thì hai đảng cầm quyền và đối lập có những khác biệt về ý kiến, chính sách chính trị. Trên nghị trường, đã xảy ra nhiều tranh cãi chỉ trích. Nhưng trước những vấn đề liên hệ đến lợi ích chung của nhân dân Mỹ, thì hai đảng có thể đi đến đồng quan điểm. Vì vậy, thì không cần phải chờ tới lúc Quốc Hội biểu quyết chấp thuận, ngay trong quá trình hình thành dự luật HR 1019, người ta đã nhận thấy đây là một công trình lưỡng đảng. Từ việc nắm vững nội dung cũng như ý nghĩa của dự luật HR 1019, người ta thử xem xét những lý luận phản đối của cộng sản Hà Nội như thế nào.
Ngày 13/02/2003 mới đây, báo chí của chế độ cộng sản Việt Nam đã đăng tải phát biểu chính thức của họ qua người phát ngôn của Bộ Ngoại Giao cộng sản Hà Nội. Phan Thúy Thanh đã nói : "Ở Việt Nam, các quyền tự do cơ bản của công dân, trong đó có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, quyền được thông tin đã quy định rõ trong Hiến pháp và đảm bảo trên thực tế". Bà đã khoe thêm : "Hơn khi nào hết, người dân Việt Nam đang tham gia tích cực vào đời sống chính trị, kinh tế, xã hội, đều được cung cấp thông tin đầy đủ và đóng góp ý kiến về tất cả các vấn đề quan trọng của đất nước. Tự do thông tin ở Việt Nam đã thể hiện rõ thông qua sự phát triển của báo chí mạnh mẽ về số lượng, đa dạng về loại hình. Cho đến nay, ở Việt Nam có 486 cơ quan báo chí với trên 600 ấn phẩm. Hằng năm, có trên 550 triệu bản báo được xuất bản...". Liên quan đến phát thanh và truyền hình, bà ta cho biết : "Hiện nay, có trên 80% số hộ nghe được đài Tiếng nói Việt Nam và 70% số hộ xem được chương trình của Ðài Truyền hình Việt Nam". Trả lời về vấn đề internet, người phát ngôn khẳng định : "Người dân cũng có mọi điều kiện thuận lợi để tiếp cận, khai thác và sử dụng thông tin rộng rãi trên mạng Internet".
Những điều phát biểu trên đây cần được phân tích thêm để tìm ra đâu là sự thật giữa dự luật HR 1019 của Hoa Kỳ và những lời tuyên bố của chính phủ cộng sản Hà Nội.
Ngoại trừ điều 4 quái dị, nếu người ta so sánh bản Hiến Pháp 1992 của nước Cộng Hòa XHCN Việt Nam với những bản hiến pháp của các quốc gia khác trên thế giới, người ta sẽ không thấy có sự khác biệt nào đáng kể. Nói cách khác là bản Hiến Pháp 1992 cũng có ghi tất cả những quyền căn bản của người dân. Những lời tuyên bố của người phát ngôn Bộ Ngoại Giao cộng sản Hà Nội về các "quyền tự do cơ bản của công dân" về tự do thông tin được ghi trong điều 69 của bản hiến pháp nói trên. Ðiều 69 viết nguyên văn như sau : "Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí ; có quyền được thông tin ; có quyền được hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật". Ðó là những gì ghi trên giấy trắng mực đen mà cộng sản Hà Nội thường mang ra khoe khoang với thế giới. Còn việc áp dụng những điều này trên thực tế như lời tuyên bố của họ là điều chúng ta sẽ phân tích ở đoạn sau.
Hà Nội khoe là hiện nay trong nước "có 486 cơ quan báo chí với trên 600 ấn phẩm" và hàng năm có trên 550 triệu bản báo được xuất bản. Ðối với một nước cộng sản độc tài mà có nhiều báo như vậy, chắc hẳn người ngoại quốc mới tới sẽ vô cùng ngạc nhiên và nghĩ rằng những lời tố cáo Hà Nội vi phạm quyền tự do ngôn luận là sai sự thật. Thực ra chỉ cần họ đặt câu hỏi là bao nhiêu là báo chí như vậy, thuộc về ai ? Có thể gặp một người chủ báo tư nhân nào không ?
Cũng như vậy, đối với truyền thanh, truyền hình mà Hà Nội khoe có 80% dân chúng nghe được đài "Tiếng Nói Việt Nam" và 70% "xem được chương trình của đài Truyền Hình Việt Nam". Không như báo chí, tên gọi của các đài này đủ cho thấy chúng là của Nhà Nước, của chế độ, của đảng cộng sản. Ðiều mà người phát ngôn của Hà Nội không đề cập là có còn đài phát thanh hay truyền hình nào khác không phải của chính quyền được phát sóng ở trong nước hay không ? và bao nhiêu phần trăm dân số bắt được những đài đó ?
Về mạng internet mà hiện nay rất nhiều người ở trong nước, nhất là giới trẻ và những người có trình độ kỹ thuật rất ưa thích và muốn lên mạng hàng ngày. Phương tiện tân tiến này giúp họ vừa liên lạc mau chóng được với bạn bè, thân thuộc không những trong nước mà còn trên toàn thế giới. Internet cũng là nguồn thông tin da dạng nhanh chóng. Tin tức trên thế giới và trong nước gần như được tung lên mạng ngay lúc đang diễn tiến. Theo người phát ngôn của cộng sản Hà Nội thì người dân "có mọi điều kiện thuận lợi để tiếp cận, khai thác và sử dụng thông tin rộng rãi trên mạng Internet". Ðiều này có đúng hay không khi người ta biết chắc Hà Nội đã dựng bao nhiêu lớp "tường lửa" (fire wall) và những biện pháp công an khác nhằm ngăn chặn và kiểm soát những người lên mạng internet.
Ðể kết luận những lời tuyên bố và cũng để phản đối Hoa Kỳ về dự luật HR 1019 của 2 dân biểu Ed Royce và Zoe Lofgren, người phát ngôn của cộng sản Hà Nội đã nói : "Ðưa ra dự luật H.R.1019 là một việc làm hoàn toàn sai trái, can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam, không phù hợp với mối quan hệ đang tiến triển giữa Việt Nam và Hoa Kỳ. Việt Nam yêu cầu Ủy ban Quan hệ Quốc tế của Hạ viện Hoa Kỳ bác bỏ dự luật này" (theo báo Tuổi Trẻ). Như đã thấy ở trên đây trong phần nội dung và mục đích của dự luật thúc đẩy tự do thông tin tại Việt Nam, không thể nói dự luật này "can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam". Hoa Kỳ đã ghi nhận là làn sóng phát thanh của họ bị chính quyền cộng sản Hà Nội thường xuyên phá nhiễu, khiến nhiều người không có thể bắt được làn sóng của đài RFA. Hai dân biểu của hai đảng chính đã đề nghị Quốc Hội của họ chuẩn phê tăng cường ngân sách cho đài để gia tăng công suất của làn sóng phát thanh, để gia tăng giờ phát thanh và tăng cường trang bị máy móc phát thanh cho đài. Ðây là công việc nội bộ của Hoa Kỳ chứ không phải công việc nội bộ của Việt Nam. Cường điệu kết luận việc đưa ra dự luật HR 1019 là "hoàn toàn sai trái", Hà Nội đã thực sự "đi ngược lại với mối quan hệ" giữa Hoa Kỳ và Hà Nội.
Trong các điều khoản liên quan đến "Quyền và nghĩa vụ cơ bản công dân", Chương V, bản Hiến Pháp của cộng sản Hà Nội, cũng như điều 69 đã viện dẫn trên đây, tất cả những quyền tự do căn bản đều bị ràng buộc bởi cân "theo quy định của pháp luật". Ví dụ điều 68 : "Công dân có quyền tự do đi lại và cư trú ở trong nước, có quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài về nước theo quy định của pháp luật". Trái với những lời tuyên bố của Nhà Nước, theo đó thì Hiến Pháp là luật căn bản và các luật lệ được soạn thảo theo tinh thần Hiến Pháp, người ta nhận thấy có rất nhiều luật lệ của cộng sản Hà Nội đã không những hạn chế mà còn đi ngược lại các quyền căn bản đã được ghi trong Hiến Pháp. Nếu ta lấy điều 68 trên đây làm ví dụ thì việc bắt người dân phải "đăng ký tạm trú, tạm vắng" là vi phạm điều 68 của Hiến Pháp 1992. Cụ thể, trong bài tường thuật "Một kỷ niệm buồn, chuyến đi giối già của vợ chồng chúng tôi", bà Nguyễn Thị Cư, vợ cựu đại tá Phạm Quế Dương đã viết : "... khoảng 11 giờ đêm, có công an khu vực đến hỏi chuyện gì người cháu\. Sau đó tôi đã nhắc người cháu đi đăng ký tạm trú, nhưng các cháu đều bảo khuya rồi, không cần, mai báo cũng được. Quả là 12 giờ đêm công an đến kiểm tra tạm trú, lập biên bản, và bảo tôi mai ra công an phường".
Trở lại vấn đề "tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do thông tin, tự do lập hội", ghi trong điều 69 Hiến Pháp 1992. Nếu điều này được tôn trọng trên thực tế thì tại sao đơn xin ra báo của các ông Bảy Trấn, ông Trần Ðộ và nhiều người khác đã bị chìm xuồng ? Tại sao những người như các ông Phạm Quế Dương, Trần Khuê, Lê Chí Quang vv... đã bị bắt bị tù vì xin lập Hội Nhân Dân Chống Tham Nhũng ? Tại sao trong các bản cáo trạng của ông Nguyễn Khắc Toàn, Lê Chí Quang và những người khác đã nêu việc nghe các đài BBC, RFI hay RFA như những tội trạng ? Dưới tất cả các chế độ độc tài cộng sản từ xưa đến nay, đặc biệt là chế độ cộng sản Việt Nam, đảng cộng sản dành độc quyền truyền thông. Nó xuất phát từ chủ trương căn bản của họ là bưng bít, ngu dân để một mình một chợ tuyên truyền. Họ không chấp nhận một tiếng nói nào trái ngược với những điều họ nói. Dù điều đó là chân lý, là sự thật. Vì thế dưới chế độ độc tài của họ, tất cả mọi phương tiện truyền thông đều nằm trong tay đảng. Ðảng chỉ thông tin những gì đảng muốn thông tin và ngăn cản những nguồn thông tin họ xét thấy không có lợi cho họ. Không những vậy, họ đã dựng lên những bức màn tre, màn sắt để ngăn cản thông tin đến từ bên ngoài. Họ biết rõ, tuy có lệnh cấm nghe các đài phát thanh ngoại quốc, nhưng dân chúng vẫn cố gắng đi tìm những nguồn thông tin khác, nên họ đã nỗ lực làm cho người dân không thể bắt được những đài đó bằng cách dùng những máy phát sóng có năng suất cao để phá nhiễu các đài đó. Trong lúc đó, tại các quốc gia dân chủ trên thế giới, đài truyền hình vệ tinh của cộng sản Hà Nội không hề bị cản trở. Hành động phá sóng các đài phát thanh là trái với những quy định quốc tế về tự do thông tin. Vì thế những lời phát biểu của người phát ngôn, nói rằng : "dự luật HR 1019 đã phản ánh sai trái tình hình thực tế ở Việt Nam" không đúng với thực tế.
Người ở ngoài Việt Nam có thể đánh giá sai lầm. Nhưng ta hãy đọc bản Thông Cáo về Quyền Tự Do Thông Tin ở Việt Nam của bác sĩ Nguyễn Ðan Quế là người đang sống trong nước. Bản thông cáo đề ngày 13/03/2003 vừa qua. Ông viết : "Nhân dân Việt Nam, nhất là giới trẻ chiếm trên 60% dân số và đặc biệt là những người làm báo, những văn nghệ sĩ, sinh viên, trí thức... cương quyết : Bác bỏ hoàn toàn luận điệu tuyên truyền xảo trá trắng trợn của phát ngôn viên bộ ngoại giao Hà Nội ngày 12/03/2003 nói ỏ Việt Nam có tự do báo chí bằng cách đưa ra con số 486 tờ báo, 80% số hộ (gia đình) được nghe phát thanh và 70% được xem truyền hình. Chúng tôi mạnh mẽ tố cáo trước dư luận trong và ngoài nước tất cả chỉ là công cụ tuyên truyền cho quan điểm sai trái, lỗi thời của đảng cộng sản Việt Nam. Hiện ở Việt Nam không có báo chí tư nhân, độc lập với chính quyền dù chỉ là một tờ...". Sau khi đưa ra bản thông cáo lật mặt nạ xảo trá của chế độ và cho thấy tình trạng thực tế về tự do thông tin trong nước, bác sĩ Nguyễn Ðan Quế đã bị cộng sản Việt Nam bắt tại Sàigòn vào lúc 8 giờ tối thứ hai ngày 17 tháng 3, giờ Việt Nam. Sau đó 4 tiếng đồng hồ, công an đã trở lại xét nhà ông, tịch thu một máy vi tính, điện thoại di động, và một số giấy tờ. BS Quế hiện bị giam tại số 23 đường Nguyễn văn Cừ, Sàigòn. Theo thông tấn xã Việt Nam, "Ngày 17/3, người đàn ông tên Nguyễn Ðan Quế, sinh năm 1942, quốc tịch Việt Nam, cư trú tại 102/7, quận 5, TP.HCM, vừa bị bắt quả tang đang chuyển tài liệu có nội dung chống Nhà nước Cộng hoà XHCN Việt Nam cho một tổ chức có tên "Cao trào nhân bản" có trụ sở ở Mỹ... Nguyễn Ðan Quế đã phạm vào Ðiều 80 Bộ luật Hình sự nước Cộng Hòa XHCN Việt Nam và đã bị Cơ quan điều tra Công an TP HCM khởi tố, bắt giam để tiến hành điều tra theo quy định của pháp luật". Cũng nên biết, điều 80 của Bộ Luật Hình Sự của cộng sản Hà Nội là điều nói về tội gián điệp và dự trù hình phạt tù từ 12 đến 20 năm, tù chung thân đến tử hình.
Việc cộng sản Việt Nam bắt bác sĩ Nguyễn Ðan Quế khi ông chuyển bản Thông Cáo về Quyền Tự Do Thông Tin ở Việt Nam ra hải ngoại đã chứng tỏ thêm một điều xảo trá nữa của người phát ngôn của chế độ nói rằng : "Người dân cũng có mọi điều kiện thuận lợi để tiếp cận, khai thác và sử dụng thông tin rộng rãi trên mạng Internet". Thực ra trước đó cộng sản Hà Nội cũng đã bắt các ông Lê Chí Quang, Nguyễn Khắc Toàn và nhiều người khác khi vừa ở trong quán cà phê internet ra. Vì biết internet là phương tiện thông tin liên lạc nhanh chóng và hữu hiệu mà họ không thể cấm hoàn toàn vì liên quan đến kinh tế, cộng sản Hà Nội đã bắt các chủ tiệm càphê internet phải kiểm soát khách hàng và báo công an nếu phát hiện những ai chuyển các tài liệu ra nước ngoài. Thêm vào đó, họ đã gài rất nhiều công an giả dạng thường dân trà trộn trong quán để theo dõi những liên lạc điện thư bất chấp điều 125 của Bộ Luật Hình Sự quy định về "tội xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín của người khác". Mục 1 của điều này ghi rõ nguyên văn như sau : "Người nào chiếm đoạt thư, điện báo, telex, fax hoặc các văn bản khác được truyền đưa bằng phương tiện viễn thông và máy tính hoặc có hành vi trái pháp luật xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín của người khác đã bị xử lý kỷ luật hoặc xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ một triệu đồng đến năm triệu đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến một năm".
Những bằng cớ hiển nhiên không có quyền tự do thông tin ở Việt Nam nhiều vô số kể. Chế độ cộng sản Hà Nội không thể che dấu được sự chà đạp tự do ngôn luận, tự do báo chí trong nước. Thế giới đã biết rất rõ. Sự kiện dự luật HR 1019 "Thúc đẩy tự do thông tin tại Việt Nam 2003" do hai dân biểu Ed. Royce và Zoe Lofgren đệ trình Quốc Hội Hoa Kỳ chứng tỏ sự hiểu biết tường tận về tình hình chà đạp nhân quyền, đặc biệt là quyền tự do ngôn luận, thông tin ở Việt Nam.
Người phát ngôn của bộ Ngoại Giao Hà Nội đã nhiều lần trơ trẽn đưa ra những lời cải chính, phản đối những vụ việc liên quan đến các hiện tượng hay hành vi sai trái của chính quyền cộng sản tại Việt Nam. Âu cũng dễ hiểu vì đó là nghề nghiệp của y thị. Nhưng lần này, khi đề cập đến "tự do thông tin ở Việt Nam" mà nói rằng người dân có đầy đủ quyền tự do này thì thật là quá đáng. Lời tuyên bố vừa đưa ra thì chính quyền đã thẳng tay đàn áp quyền tự do đó qua việc họ bắt bác sĩ Nguyễn Ðan Quế. Hà Nội đang ở cái thời buổi không còn có thể bưng bít để muốn nói gì thì nói, muốn làm gì thì làm. Tuy tất cả các phương tiện truyền thông nều nằm trong tay đảng, nhưng người dân đã vượt qua được những rào cản vật chất cũng như tinh thần để có được thông tin "ngoài luồng" ; tin tức cũng đã có thể lọt ra được đến bên ngoài. Ngay sau khi bác sĩ Quế bị bắt, ngày 19-3-2003, Hội Ân Xá Quốc Tế (Amnesty International) cũng phổ biến một bản thông cáo báo chí, bày tỏ "mối quan tâm đặc biệt về việc bắt giữ tù nhân lương tâm Nguyễn Ðan Quế" ; ngày 20-3-2003, Tổ chức Phóng Viên Không Biên Giới (Reporters Without Borders) đã phổ biến một văn thư để phản đối mạnh mẽ về hành động này ; cùng ngày, Ủy Ban Bảo Vệ Ký Giả (Committee to Protect Journalists) từ New York đã gửi kháng thư cho chủ tịch nhà nước cộng sản Việt Nam Trần Ðức Lương...
Quy luật cho thấy sự kiện đàn áp tự do ngôn luận, tự do thông tin, tự do báo chí luôn luôn gắn liền với chế độ độc tài. Chế độ cộng sản đã lừa bịp nhân dân Việt Nam, lừa bịp thế giới khi liệt kê những quyền tự do căn bản trên Hiến Pháp của họ ; nhưng trong thực tế, ở Việt Nam không có những quyền tự do căn bản đó. Nhiều người đã từng là cán bộ đảng viên cộng sản đã tố giác chính quyền cộng sản vi phạm hiến pháp. Xu hướng của thế giới ngày hôm nay là triệt hạ các chế độ độc tài để giải phóng các dân tộc đang bị kìm kẹp. Thiết tưởng, bây giờ là lúc nhà cầm quyền cộng sản Hà Nội phải trả lại các quyền tự do căn bản cho nhân dân Việt Nam, đặc biệt là tự do thông tin, đồng thời từ bỏ độc tài đảng trị nếu họ muốn có hòa bình trên đất nước ta.
Trần Trọng Nghĩa