Cộng Sản Việt Nam đang nhượng bộ, hòa hoãn với Phật Giáo hay đang giăng một cái bẫy đối với những nhà lãnh đạo của Giáo Hội PGVNTN ? Phải chăng trong việc khuyến khích Giáo Hội PGVNTN hòa hợp với Giáo Hội Phật Giáo Nhà Nước, Hà Nội có dụng ý dìm những hải đảo Phật Giáo dân tộc trong đại dương mênh mông là Phật Giáo quốc doanh ?
Từ tháng 3 năm 2003 tới nay, những biến chuyển dồn dập trong mối quan hệ giữa chính quyền cộng sản Hà Nội với những vị lãnh đạo của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất (GHPGVNTN) đang bị trù dập, cho thấy dường như có một sự "nới tay" của chế độ đối Giáo Hội. Sự kiện này, theo lý luận cơ hữu của cộng sản không có gì là ngẫu nhiên và chắc chắn có những nguyên nhân sâu xa. Một vài quan sát viên và ký giả quốc tế lạc quan như giáo sư Carl Thayer thuộc Học Viện Quốc Phòng Úc hay JC. Pomonti, phóng viên tờ báo Le Monde của Pháp đã cho rằng, những sự kiện đó có "ý nghĩa hết sức đặc biệt" và "Hà Nội đang mở lại cuộc đối thoại với những nhà bất đồng chính kiến Phật Giáo". Những nhận xét hay phỏng đoán trên đây có là sự thật hay không, tin chắc rằng các vị lãnh đạo Phật Giáo là những người am hiểu hơn ai hết. Ðối với người dân bình thường, thiết tưởng cần phải tìm hiểu thêm về những động cơ thúc đẩy cộng sản Hà Nội có thái độ hòa hoãn cũng như những dụng tâm của chế độ đối với GHPGVNTN và lập trường của các vị lãnh đạo Giáo Hội.
Việc cộng sản Hà Nội chấp thuận cho Hòa Thượng Thích Huyền Quang được rời Quảng Ngãi, nơi ngài từng bị giam lỏng trong 21 năm qua để đi chữa bệnh là hiện tượng hòa hoãn thứ nhất. Việc Hà Nội đưa Hòa Thượng ra Hà Nội điều trị đặc biệt trong một bệnh viện tối tân là hiện tượng hòa hoãn thứ nhì. Việc Phạm Thế Duyệt, ủy viên Bộ Chính Trị, chủ tịch Mặt Trận Tổ Quốc tới tận bệnh viện để vấn an Hòa Thượng, sau bao năm bị trù dập, là hiện tượng hòa hoãn thứ ba. Việc Phan Văn Khải, với tư cách thủ tướng chính phủ tiếp kiến Hòa Thượng Thích Huyền Quang là hiện tượng hòa hoãn thứ tư. Chấp thuận để Hòa Thượng thành lập phái đoàn với những vị cao tăng từ xa ra Hà Nội để gặp chủ tịch Mặt Trận Tổ Quốc thảo luận là hiện tượng hòa hoãn thứ năm. Chấp thuận để Hòa Thượng tiếp các phái đoàn ngoại giao chính thức của Âu Châu và của Hoa Kỳ tại Hà Nội cũng như tại Sài Gòn là hiện tượng hòa hoãn thứ sáu. Chấp thuận để Hòa Thượng, một người từng bị cô lập trong hơn 20 năm được đi lại, ghé thăm các thiền viện gặp gỡ chư tăng ni, phật tử tại Huế và Sài Gòn là hiện tượng hòa hoãn thứ bảy. Chấp thuận để HT Huyền Quang gặp mặt và đàm đạo với HT Quảng Ðộ, đang bị quản chế, đến 3 lần trong lúc không ai được gặp, là hiện tượng hòa hoãn thứ tám.
Vấn đề mà hiện nay nhiều người đặt ra là : liệu những hiện tượng trên đây có thực sự bộc lộ bản chất hòa hoãn của nhà cầm quyền cộng sản Hà Nội đối với GHPGVNTN hay không ?
Những năm tháng dài sống dưới chế độ cộng sản Việt Nam, người dân ta đã có quá nhiều kinh nghiệm về cái hiện tượng và cái bản chất của những chính sách do đảng và nhà nước đưa ra. Nhất là những chính sách liên quan đến quyền tự do tôn giáo.
Nhưng, nếu cứ đơn điệu mà kết luận bất lợi cho đảng và nhà nước cộng sản Hà Nội thì cũng không được công bằng cho lắm. Cũng nên tìm hiểu về chính sách tôn giáo của họ qua "Nghị Quyết Hội Nghị lần thứ VII Ban Chấp Hành Trung Ương Ðảng khóa IX về Công Tác Tôn Giáo" mới đây để thấy rõ chủ trương của họ đối với các tôn giáo nói chung. Trong phần phân tích tình hình tôn giáo, bản nghị quyết mang chữ ký của Nông Ðức Mạnh đã khẳng định tiếp tục những đánh giá của Nghị Quyết 24 của Bộ Chính Trị đảng cộng sản năm 1990 rằng "Các giáo hội và tổ chức tôn giáo nào có đường hướng hành đạo gắn bó với dân tộc, có tôn chỉ, mục đích, điều lệ phù hợp với luật pháp Nhà nước, có tổ chức phù hợp và bộ máy nhân sự đảm bảo tốt về cả hai mặt đạo, đời thì sẽ được Nhà nước xem xét trong từng trường hợp cụ thể để cho phép hoạt động". Ðồng thời, cộng sản Hà Nội cũng đã đánh giá công tác quản lý tôn giáo được giao cho bộ máy cai trị của họ : "Các ngành, các cấp đã chủ động, tích cực thực hiện các chủ trương, chính sách tôn giáo của Ðảng và Nhà nước, phát triển kinh tế - xã hội và giữ vững an ninh chính trị ở các vùng đồng bào tôn giáo, đồng thời đấu tranh ngăn chặn, làm thất bại những hoạt động lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để hoạt động chống phá Ðảng và Nhà nước". Theo nghị quyết mới này, người ta nhận thấy không có gì thay đổi về lập trường, quan điểm, khả dĩ giải thích được những hiện tượng hòa hoãn mới đây đối với Hòa Thượng Huyền Quang và GHPGVNTN. Có chăng là cộng sản Hà Nội đã phải miễn cưỡng công nhận sự hiện hữu của các tôn giáo dưới chế độ cộng sản vô thần trong điều sau đây : "Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta". Nhưng sau đó, nghị quyết nhấn mạnh : "Công tác tôn giáo là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị" và chỉ thị cho cán bộ của họ : "Tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ chuyên trách làm công tác tôn giáo có trách nhiệm trực tiếp, cần được củng cố và kiện toàn. Công tác quản lý nhà nước đối với các tôn giáo và đấu tranh chống việc lợi dụng tôn giáo để chống đối chế độ chỉ thành công nếu làm tốt công tác vận động quần chúng". Nghị quyết cũng chỉ thị những công tác cụ thể như : "Giáo dục truyền thống yêu nước, ý thức bảo vệ độc lập và thống nhất của Tổ Quốc, làm cho các tôn giáo gắn bó với dân tộc, với đất nước và chủ nghĩa xã hội, hăng hái thi đua xây dựng và bảo vệ tổ quốc". Hoặc "Tăng cường hoạt động của Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân trong việc tuyên truyền chủ trương, chính sách đối với chức sắc, chức việc, nhà tu hành và tín đồ các tôn giáo".
Sự thay đổi thái độ của cộng sản Hà Nội đối với Hòa Thượng Thích Huyền Quang nói riêng và với GHPGVNTN quả thật là hiện tượng mới lạ, không phù hợp với bản chất đàn áp tự do tôn giáo cố hữu của họ. Như vậy, chắc chắn là cộng sản Hà Nội đã có dụng ý trong việc họ đối xử hòa hoãn với Phật Giáo trong thời gian vừa qua.
Từ nhiều năm nay, chế độ cộng sản Hà Nội đều được nêu danh trên tất cả những phúc trình về những quốc gia chà đạp nhân quyền, nhất là quyền tự do tôn giáo. Cũng trên những phúc trình hàng năm của các cơ quan bảo vệ nhân quyền quốc tế, danh tánh các nạn nhân bị trù dập, trong đó có Ðại Lão Hòa Thượng Thích Huyền Quang, Hòa Thượng Thích Quảng Ðộ, linh mục Nguyễn Văn Lý, các ông Nguyễn Ðan Quế, Lê Chí Quang, Nguyễn Khắc Toàn vv... đã được nêu lên như những trường hợp điển hình. Mới đây nhất, Quốc Hội Âu Châu và Ủy Ban Tự Do Tôn Giáo Hoa Kỳ đã ra nghị quyết và lời khuyến cáo cộng sản Hà Nội phải tôn trọng tự do tôn giáo, phải trả tự do cho các Hòa Thượng Huyền Quang và Quảng Ðộ. Tuy mỗi lần có những nghị quyết, khuyến cáo hay phúc trình về nhân quyền tại Việt Nam, cộng sản Hà Nội đã huy động truyền thông của họ mạnh mẽ phản đối ; nhưng những tài liệu đó cũng làm cộng sản Hà Nội khó chịu, khó ăn, khó nói trên trường quốc tế.
Không ít thì nhiều vấn đề nhân quyền có ảnh hưởng đến bang giao quốc tế và từ đó ảnh hưởng lên quan hệ kinh tế giữa Việt Nam và các nước dân chủ trên thế giới. Hà Nội ở trong tình thế phải giải quyết dứt khoát vụ GHPGVNTN. Thực chất, họ đã thực hiện việc giải quyết này từ ngày 7/11/1981, tức hơn 20 năm nay khi họ bức bách GHPGVNTN phải hợp nhất với giáo hội Phật Giáo quốc doanh do họ lập ra và đặt dưới sự khuynh đảo lãnh đạo của Mặt Trận Tổ Quốc. Có điều họ không ngờ được là, tuy đã bị mất gần hết chùa chiền và các cơ sở văn hóa, giáo dục, từ thiện phía nam vĩ tuyến 17 ; tuy số đông tăng ni đã bị ép buộc đi theo giáo hội quốc doanh để có nơi tu trì, GHPGVNTN vẫn tồn tại và vẫn đấu tranh bất bạo động đòi tự do tôn giáo, đòi công bình, lẽ phải. Có một số giả thuyết đã được đưa ra :
1/ Sự hòa hoãn vừa qua là nhắm tới cuộc đấu tranh của GHPGVNTN ở trong và nhất là ngoài nước, nơi có 3 triệu người Việt tỵ nạn. Công cuộc đấu tranh cho Phật Giáo - mà điển hình là chống sự kiện cộng sản Hà Nội giam cầm và quản chế các vị lãnh đạo Phật Giáo Thống Nhất như Hòa Thượng Huyền Quang, Hòa Thượng Quảng Ðộ và một số tăng sĩ khác thuộc GHPGVNTN... sẽ mất đi lý do đấu tranh. Có thể cộng sản Hà Nội nghĩ rằng để Hòa Thượng Huyền Quang được tự do đi lại, tự do tiếp xúc, có thể tạo hình ảnh tôn trọng tự do tôn giáo của chế độ đối với quốc tế.
2/ Sự hòa hoãn vừa qua là do áp lực quốc tế, từ Quốc Hội Âu Châu và đặc biệt là từ phía Hoa Kỳ. Người ta đã thấy rõ vai trò của Hoa Kỳ trong thời gian qua khi Ðại Sứ, Tổng Lãnh Sự và nhân viên cao cấp Sứ Quán của họ đã 3 lần tiếp xúc với Thầy Huyền Quang. Sự kiện này không phải là không có ý nghĩa. Ðây không phải là những cuộc thăm viếng xả giao một bệnh nhân tại bệnh viện mà là những cuộc thảo luận có chủ đề là sự phục hoạt của GHPGVNTN.
3/ Sự hòa hoãn vừa qua là do cộng sản Hà Nội chủ động vói dụng ý là hóa giải, làm tan biến GHPGVNTN trong giáo hội quốc doanh. Cụ thể trong dụng ý này là khuyến khích và tạo điều kiện để hai giáo hội thống nhất, sát nhập lại với nhau. Tóm lại, nếu nói rằng Hà Nội diễn lại tấn tuồng năm 1981 thì cũng không mấy là sai. Có khác chăng, vào thời điểm 1981, quân cộng sản vừa tiến hành xong việc tịch thu tất cả tài sản của Phật Giáo trong miền Nam, coi GHPGVNTN như là sản phẩm của chế độ cũ và muốn đưa các tôn giáo vào vòng kiềm tỏa của đảng qua Mặt Trận Tổ Quốc. Những sự kiện này đã gây nên sự phản đối quyết liệt của các vị lãnh đạo Phật Giáo chân chính và dẫn đến có 2 giáo hội trong nước hiện nay.
Qua phân tích tình hình, có thể nói rằng không một giả thuyết nào trên đây là nguyên nhân duy nhất để giải thích những hiện tượng hòa hoãn của nhà cầm quyền cộng sản Hà Nội đối với GHPGVNTN. Nhưng có nhiều xác suất là cả 3 giả thuyết và không chừng còn nhiều yếu tố khác nữa cộng hưởng để dẫn đến, không những thái độ hòa hoãn của Hà Nội mà cả thái độ bớt căng thẳng đối với chính quyền cũng như giáo hội Phật Giáo quốc doanh của GHPGVNTN, qua những lời tuyên bố và hành động của vị lãnh đạo tối cao Giáo Hội là Ðại Lão Hòa Thượng Thích Huyền Quang. Ðể nhìn thấy hướng đi của GHPGVNTN cũng như dụng ý ép GHPGVNTN đi theo con đường của đảng cộng sản, trên chiều hướng hợp nhất hai giáo hội, thiết tưởng phải trở lại lập trường của GHPGVNTN và của chính quyền cộng sản Hà Nội.
Lập Trường Của GHPGVNTN
Ngày 20/03/2003, Hòa Thượng Thích Huyền Quang với tư cách Xử Lý Viện Tăng Thống, GHPGVNTN đã ký bản Kiến Nghị gửi thủ tướng cộng sản Hà Nội, Phan Văn Khải, nêu rõ yêu sách 6 điểm của Giáo Hội. Những yêu sách này được coi như lập trường cố hữu của GHPGVNTN :
1. Trả tự do cho Hòa Thượng Thích Huyền Quang, với những giải quyết hợp lý những vi phạm và mâu thuẫn pháp luật về việc giam giữ và phóng thích, mà không xúc phạm giá trị nhân phẩm như là yếu tính của các quyền con người đã được cộng đồng nhân loại xác nhận.
2. Trả tự do cho Hòa Thượng Thích Quảng Ðộ ; hủy bỏ việc thi hành án phạt một cách vi luật, tùy tiện ; hủy bỏ và giải thích việc thi hành quản chế như một hình thức câu thúc thân thể bất hợp pháp.
3. Trả lại cơ cấu tổ chức và sinh hoạt thuần túy tôn giáo cho Phật giáo Việt Nam ; không cải tạo Phật giáo Việt Nam thành một tổ chức chính trị để phục vụ cho tham vọng quyền lực chính trị của bất cứ tổ chức, đảng phái chính trị nào.
4. Không thừa nhận cũng không cưỡng ép bất cứ cá nhân tu sỹ nào nhân danh Phật giáo tham gia các chức vụ trong các cơ cấu chính quyền và các tổ chức chính trị.
5. Không can thiệp dưới bất cứ hình thức nào vào sinh hoạt hành trì thuộc phạm vi giới luật của Tăng già mà đức Phật đã qui định trên 2.500 năm và đã được tuân thủ bởi tất cả các cộng đồng Tăng già trên toàn thế giới.
6. Phục hồi danh dự và mọi hoạt động của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất trong khuôn khổ hiến pháp và luật pháp mà không xúc phạm các giá trị truyền thống.
Có thể tóm gọn 6 điều này trong những quan điểm như sau : Chấm Dứt đàn áp GHPGVNTN ; GHPGVNTN độc lập với chính quyền hay những tổ chức ngoại vi của chính quyền (Mặt Trận Tổ Quốc) ; Phục hoạt GHPGVNTN.
Lập Trường Của Cộng Sản Việt Nam
Chủ trương vô thần, tiêu diệt tôn giáo là kinh điển của cộng sản Hà Nội. Ngay trong Nghị Quyết Hội Nghị Trung Ương Ðảng kỳ 7, khóa 9 đã nói ở trên, họ đã nhắc đi, nhắc lại : "Tín ngưỡng, tôn giáo (còn) là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta". Như vậy, việc chẳng đặng đừng, họ phải chấp nhận sự hiện hữu của tôn giáo trong cái xã hội mà họ gọi là xã hội XHCN. Sự chấp nhận thực tế này là miễn cưỡng và họ phải làm thế nào để "quản lý" chặt chẽ mọi tôn giáo dưới nhiều hình thức, từ bạo hành đến tuyên truyền, ve vuốt. Từ căn bản này, Hà Nội chủ trương mọi tôn giáo phải hoạt động trong khuôn khổ Mặt Trận Tổ Quốc để một mặt họ quản lý chặt chẽ mọi hoạt động tôn giáo, một mặt họ tuyên truyền và ép buộc các tôn giáo phải ủng hộ chế độ, ủng hộ đảng cộng sản. Nghị quyết nêu trên của cộng sản Hà Nội đã một lần nữa minh định là chỉ có những tôn giáo, những giáo hội nào được đảng và Nhà Nước cho phép hoạt động mới được hiện hữu và hoạt động trong khuôn khổ do họ đặt ra. Cũng chính vì GHPGVNTN đã không được cộng sản Hà Nội cho phép nên giáo hội đã bị đàn áp, các vị lãnh đạo đã bị tù đày, quản thúc. Gần đây, ngày 26/05/2003, trong bài phản luận của tờ Nhân Dân, cơ quan ngôn luận của cộng sản Hà Nội, họ đã từ chối sự hiện hữu của GHPGVNTN : "sự thật là ở Việt Nam, không có Giáo hội này, mà chỉ có một Giáo hội Phật giáo Việt Nam được tất cả các hệ phái cả nước, trong đó có Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất trước đây, tự nguyện hợp nhất trong ngôi nhà chung đó vào ngày 7-11-1981".
Con đường dẫn đến hợp nhất hai giáo hội còn nhiều chướng ngại cần vượt qua. Mặc dù sự hòa hoãn của các vị lãnh đạo GHPGVNTN xuất phát từ lòng từ bi, hỉ xả của Ðức Phật ; nhưng các ngài cũng phải vì tiền đồ của Giáo Hội, vì ích lợi của chúng sinh mà đòi hỏi những điều căn bản tối thiểu cho sự sinh tồn của Giáo Hội. So sánh hai lập trường nêu trên đây, người ta đã thấy rõ những điểm mâu thuẫn mang tính bản chất, rất khó giải quyết. Phải chăng, cộng sản Hà Nội đang giăng một cái bẫy cho GHPGVNTN ?
Qua những diễn biến từ đầu năm đến nay ; qua những tuyên bố của Ðại Lão Hòa Thượng Thích Huyền Quang, vị lãnh đạo tối cao của GHPGVNTN ; qua những lời lẽ của Phan Văn Khải, Phạm Thế Duyệt, đại diện cho chính quyền cộng sản Hà Nội, thì thấy được ý chí hợp nhất hai giáo hội rất rõ ràng. Sự xúc tiến có đi đến thành công hay không lại là vấn đề khác không đơn thuần tùy thuộc GHPGVNTN. Kinh nghiệm những cuộc thương thảo với cộng sản Hà Nội, trên mặt quốc gia hay quốc tế, người ta không khỏi có những ưu tư.
Ưu tư xây dựng thế và lực cho Giáo Hội
Nếu thế và lực của GHPGVNTN được xem là đáng kể ở hại ngoại thì ở trong nước, thế lực đó còn yếu so với giáo hội quốc doanh. Vào thảo luận hợp nhất với một đối thủ nhiều thủ đoạn là cộng sản Hà Nội, với một thế lực như vậy, là điều đáng ưu tư. Dĩ nhiên, quý Thày cũng thấy rõ là đa số tăng, ni, phật tử trong giáo hội quốc doanh ở miền Nam đều thuộc GHPGVNTN trước đây. Họ đã vì hoàn cảnh mà theo giáo hội quốc doanh ; nhưng trong thâm tâm,các vị đó cũng chẳng đếm xỉa gì đến chủ nghĩa xã hội và cũng chẳng đứng trên lập trường của đảng và nhà nước. Các Ngài Huyền Quang, Quảng Ðộ, Tuệ Sĩ, Thiện Hạnh vv... muốn xây dựng lực lượng của Giáo Hội bằng chính những thành phần Phật Giáo quốc doanh bất đắc dĩ đó là chí lý. Nhưng vấn đề then chốt là Quý Ngài cần có một đội ngũ "cán bộ" "đi sâu, đi sát" tăng, ni, phật tử để vận động họ. Thiết nghĩ, Quý Thày đã có sẵn giải pháp thì mới dám chấp nhận thách đố hợp nhất.
Ưu tư phục hoạt GHPGVNTN
Hợp nhất hai Giáo Hội không có nghĩa là đưa một số tăng, ni, phật tử "sát nhập" vào giáo hội quốc doanh. Nói "hợp nhất hai Giáo Hội" có nghĩa mặc nhiên công nhận sự hiện hữu của hai Giáo Hội, hai thực thể. Giáo Hội quốc doanh thì đã là thực thể do chính quyền ban cho. Chỉ có GHPGVNTN từ năm 1981 đến nay vẫn bị chính quyền từ chối, không công nhận sự hiện hữu và cấm hoạt động. Vậy điều hợp lý là GHPGVNTN phải được phục hoạt, được công nhận như một thực thể trước khi tiến tới hợp nhất. Việc phục hoạt GHPGVNTN phải được công nhận trên mặt pháp lý. Giáo Hội phải có trụ sở và phải được công khai hoạt dộng. Ðây là yếu tố then chốt mà các vị lãnh đạo GHPGVNTN trong nước đã nhìn thấy và đã nêu lên trong điều 3 của bản yêu sách 6 điểm gửi nhà cầm quyền hồi tháng 3/2003 vừa rồi.
Ưu tư chống lại âm mưu đồng hóa
Trong lúc Quý Thầy nhìn thấy cách xây dựng thế lực từ giáo hội quốc doanh thì Hà Nội cũng thấy có thể dùng thế lực của giáo hội quốc doanh với số đông áp đảo sẽ nuốt chửng GHPGVNTN. Trong tiến trình hợp nhất, cửa ải không thể tránh được là cái bàn tay nối dài của đảng cộng sản và của chính quyền là Mặt Trận Tổ Quốc (MTTQ). Hẳn nhiên với lập trường cứng rắn được Hòa Thượng Thích Huyền Quang nêu lên trong điểm 6 của bản Kiến Nghị ngày 20/3/2003, một phần ưu tư về vấn đề này đã được giải tỏa, nhưng chắc chắn Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất còn phải đấu tranh một cách gay go để tách khỏi sự kiềm tỏa của MTTQ.
Từ đầu năm đến giờ, người ta đã chứng kiến những hiện tượng hòa hoãn của chính quyền cộng sản Hà Nội đối với Hòa Thượng Thích Huyền Quang và qua Hòa Thượng, đối với GHPGVNTN. Phan Văn Khải trong cuộc tiếp xúc Hòa Thượng đã cho thấy là chính quyền không muốn có 2 giáo hội Phật Giáo và tỏ ý mong muốn hai giáo hội hợp nhất làm một. Qua lập trường 6 điểm của GHPGVNTN, người ta cũng thấy rõ là GHPGVNTN không chấp nhận một sự khống chế, xen vào nội bộ của chính quyền hay một cơ quan chính trị thuộc chính quyền. Nói cách khác, Giáo Hội chấp nhận hòa hợp nhưng không hòa tan, không tan biến trong Giáo Hội Phật Giáo quốc doanh. Tiến trình dẫn đến hòa hợp hai giáo hội còn nhiều cam go. Vấn đề chính là GHPGVNTN phải đấu tranh để được phục hoạt trước khi có những cuộc hiệp thương để bàn về hợp nhất. Hy vọng rằng, với sức đấu tranh kiên cường của Quý Thầy trong nước, của đồng bào hải ngoại, với áp lực quốc tế, nhất là áp lực từ Hoa Kỳ và Âu Châu, cộng sản Hà Nội sẽ phải hòa hoãn hơn nữa với các tôn giáo, đặc biệt là GHPGVNTN. Hy vọng từ đó sẽ có thêm một chút Tự Do Tôn Giáo.
Trần Trọng Nghĩa