Đối Thoại Website: Doi-Thoai.com Email: toasoandoithoai@yahoo.com
|
Ma Túy Tại Việt Nam Càng Chống Càng Tăng ! |
TÒA án nhân dân thành phố Sài Gòn nhóm họp ngày 23/02/2004 mới đây, để xét xử một vụ buôn bán, vận chuyển ma túy lớn trên đường dây Việt Nam - Nhật Bản, vừa kết thúc với 4 bản án tử hình, 4 bản án chung thân và một bản án tù 20 năm. Trong khi tòa án còn đang diễn ra thì ở Đà Nẵng và thành phố Vinh thuộc tỉnh Nghệ An, công an cũng bắt được gần 50 bánh bạch phiến (heroine) và nhiều loại thuốc ma túy khác. Hãng tin AFP, từ năm 1998 đã có bài viết nhan đề "Càng nhiều án tử hình, nạn ma túy càng gia tăng".
Từ hơn 10 năm nay, nạn ma túy ngày càng phát triển tại Việt Nam, hơn cả phát triển kinh tế. Hà Nội biết rõ là thế giới đang chú trọng việc bài trừ ma túy và tệ nạn này xuất hiện vào cuối thập niên 80, có thể ảnh hưởng trực tiếp lên nền kinh tế mới "đổi mới" theo hướng thị trường, không phải vì có hại cho sức khỏe dân ta mà vì thế giới sẽ kỳ thị. Nhất là trong thời kỳ Hà Nội đang tìm cách thiết lập bang giao với Hoa Kỳ. Thêm vào đó, giới đương quyền Hà Nội lúc đó lại phải đối phó với thành phần lãnh đạo thủ cựu, chống "đổi mới" và coi tệ nạn này như là một hậu quả của kinh tế thị trường. Vì vậy, chính quyền đã có những biện pháp mạnh để trừng phạt những người có liên quan đến ma túy.
Theo AFP, thì trong 8 tháng đầu năm 1998 đã có 28 người buôn bán ma túy bị kết án tử hình. Năm trước, 1997 cũng có con số tương tự và trong năm 1996 đã đưa ra hành quyết 20 tội nhân. Năm 1995, 5 người đã bị xử bắn. Vào tháng 3/1998, để cảnh cáo giới buôn lậu ma túy, chính quyền Hà Nội đã hành quyết tập thể một lúc 7 phạm nhân sau một phiên tòa sôi nổi được truyền thông phổ biến rộng rãi. Luật lệ về ma túy cũng trở nên khắt khe hơn. Tội tử hình, lúc đầu được ấn định cho những ai chuyển vận 1 kg bạch phiến hay 10 kg thuốc phiện, được rút xuống 500g rồi 100g bạch phiến. Hãng tin Reuters ngày 24/3/2001 cho biết, theo nguồn tin của Liên Hiệp Quốc, đã có 65 người bị kết án tử hình trong năm 2000 và 82 người trong năm 1999.
Tại sao không chặn được ma túy ?
Câu hỏi đầu tiên được đặt ra là : luật pháp khắt khe như thế, tại sao nạn ma túy không giảm mà lại tăng ? Có nhiều lý do. Nhưng đại để có thể gom lại thành những nhóm như sau :
Thứ nhất : Nguyên nhân đến từ guồng máy lãnh đạo tối cao của đảng CSVN và sự thối nát của cán bộ Nhà Nước. Ngay khi tệ nạn ma túy xuất hiện thì trên thượng tầng lãnh đạo đảng đã không đánh giá đúng mức hậu quả tai hại của tệ nạn này. Họ đã dùng tệ nạn này như khí giới để đấu đá nhau giữa phe chủ trương mở cửa và phe giáo điều bảo thủ, chống "đổi mới". Thay vì bắt tay ngay vào việc bài trừ, ngăn chặn, họ đổ lỗi cho đế quốc, các thế lực thù nghịch, CIA Hoa Kỳ tiến hành "diễn biến hòa bình" để phá hoại chế độ XHCN.... Hai phe cùng dùng những lập luận này để đối phó nhau để bảo vệ lập trường và chỗ đứng của mình. Vào năm 1995 là năm thiết lập được quan hệ ngoại giao với Hoa Kỳ thì cũng là năm Hoa Kỳ đã liệt Việt Nam vào danh sách những quốc gia "chuyển tiếp ma túy quan trọng".
Thêm vào đó, chính cán bộ, quan chức các ngành quân đội, công an, hải quan và cơ quan bài trừ ma túy lại nhúng tay vào việc buôn lậu ma túy. Tệ tham nhũng phát sinh trong hàng ngũ quan chức đảng và chính quyền vì trong họ, lý tưởng cộng sản đã sụp đổ mà chỉ còn lòng tham muốn chiếm đoạt, làm giàu nhanh bằng mọi cách. Buôn bán ma túy có lời lớn và lời nhanh. Bất chấp hậu quả, họ đã lao đầu vào các đường dây, các hệ thống chuyển vận, phân phối độc chất nguy hiểm này. Năm 1995, có 221 cán bộ hải quan đã bị phạt hành chánh ; tháng 7/1996 đến lượt quân đội bị dính líu. Vũ Xuân Trường, đại úy công an biên phòng tại Lai Châu đã bị một tử tội người Lào tố cáo là tòng phạm của y, gây rung động Bộ Nội Vụ và kéo theo hàng chục cán bộ có liên quan đến vụ án. Đến tháng 12/1996 thì Vũ Hữu Chính, trách nhiệm bộ phận bài trừ ma túy thuộc Bộ Nội Vụ bị bắt. Phe giáo điều lợi dụng vụ này để tố Võ Văn Kiệt và Phan Văn Khải. Nhưng cơ quan ODG (Overseas Development Group) của một trường đại học Anh có mặt ở Việt Nam trong các dự án điều tra, xây dựng đã tiết lộ : vụ xì căng đan này xuất phát từ sự tranh chấp làm ăn giữa quân đội và công an. Cũng nên nhắc lại là sau "đổi mới", công an và quân đội được "làm kinh tế". ODG còn khẳng định là quân đội đã vận chuyển bạch phiến và thuốc phiện trên xe bọc thép.
Thứ nhì : Lợi nhuận đã làm con người mờ mắt, mất lương tri. Nhìn vào sự giàu sang của cán bộ, quan chức cộng sản, người dân đều muốn thoát ra khỏi tình trạng nghèo khó thê thảm. Họ có thể bị bọn buôn lậu ma túy quốc tế dụ dỗ, hay bị chính các cán bộ móc nối cộng tác. Họ làm để nuôi sống bản thân, để nuôi sống gia đình. Dần dà họ trở thành những tên buôn lậu chuyên nghiệp, làm ăn lớn, đứng đầu các đường dây. Bên cạnh dịch vụ chuyển ma túy đi các nước khác trong vùng Đông Nam Á, thị trường nội địa đã ngày càng to lớn, trị giá ước lượng 200 triệu mỹ kim một năm. Số người nghiện ngập ngày càng đông.
Ma Túy từ đâu tới ?
Nguồn ngoại nhập : Việt Nam là nước tiếp giáp vi Trung Quốc và Lào. Vùng biên giới Lào, Miến Điện và Trung Quốc có một vùng nổi danh là Khu Tam Giác Vàng. Nơi đây, người ta chuyên trồng cây thuốc phiện từ nhiều thập niên qua trên một diện tích hàng chục ngàn hectares, sản xuất mỗi năm 3000 tấn thuốc phiện. Ngoài ra cây thuốc phiện cũng được trồng tại A Phú Hãn (Afghanistan). Ma túy xâm nhập vào Việt Nam qua 4 đường dây :
- Đường dây thứ nhất và cũng là đường dây quan trọng nhất về số lượng là đường dây xuất phát từ khu Tam Giác Vàng, qua Thượng Lào và vào Việt Nam. Đường dây này bị phát giác khi bắt được một con buôn người Lào tên Sieng Pheng mang trong người 15,5 kg bạch phiến. Tên này đã bị xử tử.
- Đường dây thứ nhì xuất phát từ Trung Quốc, xâm nhập Việt Nam qua đường thủy và đường bộ vào tỉnh Lai Châu, Sơn La, Lào Cai. Đường dây này bị phát giác khi bắt được 227 kg thuốc phiện và thủ phạm Nguyễn Văn Quang đã bị kết án tử hình.
- Đường dây thứ ba xuất phát từ Hạ Lào và xâm nhập Việt Nam qua tỉnh Nghệ An.
- Đường dây thứ tư là đường hàng không. Sân bay Nội Bài và Tân Sơn Nhất là nơi tiếp nhận hàng lậu.
Nguồn nội địa : Tại Lai Châu và tại 11 tỉnh biên giới phía Bắc, đồng bào thiểu số gồm người Mèo (hmong) và người Tày cũng có thói quen trồng cây thuốc phiện từ nhiều chục năm nay. Dưới thời kỳ thực dân Pháp đô hộ, họ được chính quyền bảo hộ khuyến khích trồng cây thuốc phiện để cung cấp cho công ty độc quyền thuốc phiện Đông Dương. Người ta ước lượng, vào năm 1992, diện tích trồng cây thuốc phiện tại tỉnh Lai Châu là 20.000 hectares, có khả năng cung cấp mỗi năm 100 tấn thuốc phiện. Với sự giúp đỡ của các cơ quan quốc tế bài trừ ma túy, nhà nước đã khuyến khích dân chúng chuyển canh, phá rẫy thuốc phiện để trồng rau quả khác. Năm 1995, Việt Nam thông báo đã phá hủy 16.000 hectares cây thuốc phiện trong 3 năm trước đó. Đến năm 1996, Hà Nội xác nhận chỉ còn 1800 hectares. Nhưng chỉ với 1800 hectares, với kết quả thu hoạch 5 kg thuốc phiện một hectare thì hàng năm cũng thu hoạch được 9 tấn độc dược. Nhưng, theo sự điều tra của Hoa Kỳ thì diện tích trồng thuốc phiện không phải như Hà Nội loan báo mà là 3150 hectares, sản xuất 25 tấn thuốc phiện mỗi năm, tương đương với Thái Lan. Nhưng đầu năm 1997 một quan sát viên của ODG đã nhận xét là diện tích trồng cây thuốc phiện tại các tỉnh biên giới đã gia tăng, đặc biệt là Lai Châu. Hơn nữa, ODG cũng tiết lộ là tại tỉnh này, bọn buôn lậu đã có phòng thí nghiệm thanh lọc thuốc phiện thành bạch phiến.
Những con số ghê rợn.
Theo lời đại tá Vũ Hùng Cường, chủ tịch ủy ban bài trừ ma túy, với báo chí thì trong 6 tháng đầu năm 2003, công an đã bắt được số lượng ma túy, độc dược nhiều gấp 3 lần năm 2002 ; tức là 98,4kg bạch phiến, 217kg cần sa, 93.000 viên thuốc "lắc" (ectasy) trong 7.000 vụ có liên quan đến 10.000 người. Nếu đem so sánh với năm 1995 thì số bạch phiến bị bắt là 3,7kg, 97kg thuốc phiện, 104 842 ống morphine, 573 viên thuốc an thần liên quan đến 34 vụ sử dụng và 18 vụ buôn bán ma túy.
Con số chính thức người bị nghiện ma túy, tuy chỉ là một phần nhỏ của thực tế, một phần vì người nghiện không khai báo, phần vì chính quyền không có đủ phương tiện, ngân sách điều trị cai nghiện, cũng lên đến 180.000 năm 1995, 240.000 năm 1996, 200.000 năm 1998. Những con số hiện nay chắc còn cao hơn rất nhiều. Theo nguồn tin của công an thành phố thì riêng tại Sài Gòn, vào cuối thập niên 90, mỗi năm tiêu thụ khoảng 700kg bạch phiến được phân phối bởi 630 địa điểm, và số người nghiện tăng lên gấp đôi mỗi năm.
Vì những người nghiện thường tiêm chích chung cùng kim tiêm và ống bơm, nên hậu quả đầu tiên của nạn ma túy là lây truyền bệnh SIDA. Bệnh này có thể lây truyền bằng đường sinh dục ; nhưng thủ phạm chính vẫn là kim tiêm nhiễm trùng. Nếu đối chiếu số người nghiện với người mắc bệnh SIDA thì sẽ có một cái nhìn toàn diện hơn về tệ nạn ma túy. Vào năm 1996, chỉ riêng tại trung tâm Bình Triệu, có đến 2.000 người nghiện ma túy mắc bệnh SIDA. Hãng thông tấn AFP, ngày 3/7/2002, trích dẫn lời tuyên bố của một viên chức thuộc Ủy Ban Quốc Gia bài trừ bệnh SIDA, cho biết tổng số người mắc bệnh kiểm soát được là 50.856 người. Đã có 4.000 người chết vì bệnh này từ đầu năm 2002 đến ngày 3/7/2002. AFP cho biết thêm là con số thực sự những người có phản ứng dương tính có thể phải nhân lên gấp 3 lần. Trong khi đó, Chương Trình LHQ về Phát Triển thì ước lượng con số người mắc bệnh là từ 300.000 đến 350.000 trong 3 năm tới đây.
Ai là những người chơi ma túy ?
Trước đây, những người nghiện hút thường là những người lớn tuổi. Thú vui của họ là hút thuốc phiện với bàn đèn. Vào năm 1994, có tất cả 2.430 tiệm hút trên toàn quốc. Con số này ngày càng giảm và chỉ còn từ 250 đến 300 tiệm vào năm 1995. Báo chí Tây Phương tiết lộ là những tiệm này được hưởng sự che chở của chính quyền, ít là chính quyền địa phương. Nhưng nếu các tiệm hút giảm đi thì nạn sử dụng bạch phiến bùng phát mạnh hơn. Và người chơi ma túy càng ngày càng trẻ hơn. Vào năm 1996, tại tỉnh Lạng Sơn, khi thử nước tiểu cho học sinh các trường trung học, người ta đã khám phá nước tiểu có dấu vết bạch phiến nơi 10% học sinh. Phố Đào Duy Từ, ngay trung tâm Hà Nội, đã nổi danh là nơi mua bán và tiêm chích ma túy. Có 2 loại người chơi ma túy : thứ nhất là bọn trẻ nhà giàu gồm sinh viên, học sinh trung học đi tìm cảm giác mới và thứ nhì là những người lớn thuộc giới bần cùng, đi tìm quên lãng... Tại Sài Gòn, những điểm chích choác ngày càng gia tăng. Hàng trăm người đã bị công an vây bắt. Trong đó phân nửa ở lứa tuổi từ 15 đến 25.
Hậu quả của ma túy.
Ma túy là đầu mối của nhiều bệnh tật và tội phạm. Ngoài bệnh SIDA có thể lây lan do kim chích ma túy nhiễm trùng truyền từ người này sang người khác, ma túy còn gây nghiện và làm hại từ tinh thần đến thể chất. Khi đã nghiện ngập rồi thì việc gì cũng dám làm, kể cả cướp của giết người để có tiền mua ma túy. Xã hội đã bị băng hoại do chế độ mà sinh ra, lại còn băng hoại hơn nữa với hậu quả của tệ nạn ma túy. Những vụ lừa đảo, trộm cướp, thậm chí án mạng thanh toán lẫn nhau cũng do ma túy mà ra. Người ta đã tưởng luật pháp khắt khe với hàng trăm án tử hình có thể ngăn chặn được tệ nạn này. Nhưng người ta đã thất vọng vì án tử hình nhiều nhưng ma túy vẫn gia tăng nhanh hơn.
Làm gì bây giờ ?
Phần lớn, lúc ban đầu, người ta, nhất là giới trẻ tìm đến ma túy để sống với ảo giác, để trốn hiện tại thê thảm... Nếu con người nhìn thấy tương lai tươi sáng, đầy hứa hẹn và có thể đạt tới thì sẽ không còn tìm đến với ma túy nữa. Hẳn là chế độ hiện nay tại Việt Nam không cho dân thấy được tương lai tươi sáng, nên nạn ma túy mới bùng phát như khối ung thư trên đất Mẹ Việt Nam. Trị bệnh phải trị từ căn, không thể trị triệu chứng mà hết được. Nạn ma túy chỉ là triệu chứng của một xã hội bệnh hoạn toàn diện mà thôi.
Trần Trọng Nghĩa