![]() ![]() |
|
Thượng Tọa Thích Trí Quang đã đưa Thầy Tuệ Sỹ về viện Hải Ðức để học Phật Pháp ở Nha Trang, rồi về thiền viện Quảng Hương Già Lam ở Gò Vấp. Thầy tốt nghiệp Viện Cao Ðẳng Phật Học Sài Gòn năm 1964 và Viện Ðại Học Vạn Hạnh phân khoa Phật học năm 1965. Thầy được đặc cách bổ nhiệm Giáo sư thực thụ Viện Ðại Học Vạn Hạnh từ năm 1970 nhờ những công trình nghiên cứu và những khảo luận triết học có giá trị rất cao, như Ðại Cương Về Thiền Quán, Triết Học Về Tánh Không. Thầy rất giỏi chữ Hán, biết nhiều ngoại ngữ như Anh, Pháp, Ðức, thông thạo tiếng Pali và tiếng Phạn. Thầy Tuệ Sỹ là một học giả uyên bác về Phật Giáo Nguyên Thủy và Ðại Thừa, đọc và nghiên cứu Tô Ðông Pha từ nguyên tác, để lại một tác phẩm chan hòa tính thơ : Tô Ðông Pha, Những Phương Trời Viễn Mộng (Ca Dao Sài Gòn, 1973). Những lúc rảnh Thầy chơi dương cầm. Thầy làm nhiều thơ, viết một số truyện ngắn đặc sắc, phần lớn đăng trên tạp chí Khởi Hành (1969-1972) và Thời Tập tại Sài Gòn (1973-1975), khi đứng tên trong Bộ Biên Tập tạp chí này. Thầy cũng là Chủ bút Tạp Chí Tư Tưởng của Viện Ðại Học Vạn Hạnh. Thầy say mê hai bộ Kinh Pháp Hoa và Duy Ma Cật, chứa đầy những vị Bồ Tát xả thân vào đời để cứu nhân độ thế. Duy Ma Cật là bộ kinh nêu cao tinh thần sống đạo, mà chẳng cần y áo hay sự suy tôn kiểu cách. Duy Ma Cật là một vị Bồ Tát cư sĩ, đã có một câu nói để đời : "Bệnh của ta là bệnh của chúng sinh. Còn một chúng sinh đau khổ, ta còn đau. Ta phụng sự cứu họ". Trong tinh thần thương cảm thế nhân như vậy, và với kiến thức Phật Học uyên bác, Thích Tuệ Sỹ đã xả thân cứu đời, dấn thân tranh đấu ôn hòa cho quyền làm người và bảo vệ Phật Pháp sau khi cộng sản miền Bắc cưỡng chiếm miền Nam từ 1975. Và Thầy đã trở thành một trong cái gai trước mắt nhà cầm quyền cộng sản. Sau 1975, Thầy Thích Tuệ Sỹ về Nha Trang làm rẫy. Ðến năm 1977, vào Sàigon sống ở Chùa Già Lam. Ðầu năm 1978, Thầy bị nhà cầm quyền CSVN bắt, bị đưa ra trại tù cải tạo 3 năm, đến đầu năm 1981 thì được phóng thích. Ba năm sau, Thầy lại bị bắt vào ngày 1/4/1984, cùng giáo sư Trí Siêu Lê Mạnh Thát và 17 Tăng ni, sĩ quan cũ của QLVNCH. Trong phiên tòa kéo dài nhiều ngày vào cuối tháng 9 năm 1988, không có luật sư biện hộ, CSVN đã kết án tử hình hai thầy Tuệ Sỹ và Trí Siêu, vì tội âm mưu võ trang lật đổ chính quyền qua việc lập ra tổ chức Mặt Trận Nhân Quyền Việt Nam, sau đó trở thành Lực Lượng Việt Nam Tự Do. Chùa Già Lam bị công an ập vào vây bắt người, tịch thu tài sản. Thư viện và kinh sách bị lục soát, đào xới. Do sự tranh đấu tích cực của các cơ quan nhân quyền quốc tế, Hà Nội phải giảm án xuống còn chung thân khổ sai, đem giam Thầy tại trại A-20 Phú Yên. Tháng 10/1994, cùng với 200 tù nhân, thầy tham gia biểu tình đòi gặp phái đoàn Liên Hiệp Quốc và đòi hỏi các quyền khác, nên bị Cộng Sản đày ra Bắc. Thượng Tọa Thích Tuệ Sỹ đã được Tổ chức Human Rights Watch đã trao giải thưởng tranh đấu nhân quyền (Hellman-Hammett Awards) cùng với 7 nhà đấu tranh khác ngày 3/8/98. Năm 1998, Hà Nội trả tự do cho Thượng Tọa, cùng với một số người khác. Trước đó, Thầy đã tuyệt thực trong tù. Trước khi thả, nhà cầm quyền CSVN yêu cầu Thầy Tuệ Sỹ ký vào lá đơn Xin Khoan Hồng để gửi lên ông Chủ Tịch Nhà Nước Trần Ðức Lương, Thầy Tuệ Sỹ trả lời : "Không ai có quyền xét xử tôi, không ai có quyền ân xá tôi". Công an nói không viết đơn thì không thả. Tuệ Sỹ không viết, và tuyệt thực. Hà Nội đã phải trả tự do cho Thầy ngày 1/9/1998 sau 10 ngày tuyệt thực. Ngày 2/9/98, lúc 10 giờ 45, Thượng Tọa Tuệ Sỹ được đưa lên tàu hỏa về Nam, ngồi suốt 36 tiếng đồng hồ trên tàu nên không chịu nổi, vì Thầy rất yếu sau 10 ngày tuyệt thực ở trong tù. Thầy đã xuống Nha Trang, vào tạm trú ở Phật học viện Hải Ðức. Ít lâu sau Hà Nội lại ra lệnh Thầy phải về Chùa Già Lam ở Gia Ðịnh, chứ không được phép ở lại Chùa Hải Ðức. Giữa tháng 4 năm 1999, Hòa Thượng Quảng Ðộ đề cử Thượng Tọa làm Tổng Thư Ký Viện Hóa Ðạo. Ngày 14.9.99 TT Thích Tuệ Sỹ lại bị công an bắt lên trụ sở làm việc về "những hành động phạm pháp" phát hiện trong máy vi tính của TT bị tịch thu. TT Thích Tuệ Sỹ đã phản đối những lời vu cáo của công an trong khi bị thẩm vấn tại sở công an quận Gò Vấp. Với trách nhiệm Tổng Thư Ký Viện Hóa Ðạo, Thượng Tọa Thích Tuệ Sỹ hiện nay là một trong những nhà lãnh đạo Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, là người đóng góp rất nhiều cùng với nhị vị Hòa Thượng Thích Huyền Quang và Thích Quảng Ðộ trong công cuộc đấu tranh đòi hỏi quyền tự do tôn giáo tại Việt Nam, nhất là quyền phục hoạt của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất. Thầy Tuệ Sỹ đã từng tuyên bố tại tòa án, cũng như lúc trong tù về niềm tự hào của Phật giáo : "Lập trường của chúng tôi là lập trường của Phật giáo, là lập trường của toàn khối dân tộc". Ðối với Thượng Tọa Tuệ Sỹ, cái sức mạnh của Phật giáo không phải là chính trị, mà là văn hóa và xã hội, trong đó giáo dục là hàng đầu, do đó Thầy rất quan tâm đến việc giáo dục Tăng ni. Nhưng công tác giáo dục này phải là của giáo hội đề ra một cách độc lập chứ không thể chịu sự kiểm soát hay áp đặt của bất cứ thế lực nào. Do đó, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất không thể bị ép làm thành viên của Mặt Trận Tổ Quốc, một cơ chế do đảng CSVN lập ra, trong đó có Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam (giáo hội quốc doanh) thành lập từ năm 1980. Từ nguyên tắc này, việc sát nhập hai giáo hội được Thượng Tọa Thích Tuệ Sỹ xem như là điều không thể xảy ra. |
|