|
Chính sách báo chí của đảng cộng sản Việt Nam qua cái nhìn của nguyên thủ tướng Võ Văn Kiệt
|
Ngay từ khi mới hình thành, vào đầu thập niên 30 của thế kỷ trước, các tổ chức cộng sản ở Việt Nam đã đặc biệt chú trọng tới báo chí, với tư cách một vũ khí mạnh và hữu hiệu trong công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Đảng cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo rất kịp thời đảng viên và quần chúng đi theo họ thông qua các bài viết trong tờ Cờ Giải Phóng trong giai đoạn trước cuộc Tổng khởi nghĩa 1945. Độc giả của tờ báo thành tín coi những bài viết đó là những chỉ thị của cấp trên. Ở vùng kháng chiến, ngoài tờ Nhân dân (tiếng nói chính thức của đảng cộng sản) có một số rất ít báo địa phương, báo quân đội. Lượng thông tin về mọi mặt đời sống xã hội và quốc tế trong những tờ báo đó rất ít. Thông tin quốc nội và quốc tế chỉ được phổ biến hạn chế trong một số cán bộ, đảng viên cao cấp trong An toàn khu (gọi tắt là ATK) qua các bản tin được phát hành tại Phủ Chủ tịch mang tên 3TN (Tin Tức Trong Nước) và 3TG (Tin Tức Thế Giới).
Nói tóm lại, từ
đêm trước của Cách mạng Tháng Tám cho tới cuối năm 1954, báo chí cộng sản Việt
Nam không mang đặc tính của báo chí theo nghĩa thông thường. Về thực chất, đó
chỉ là những chỉ thị, nghị quyết của đảng, những bài cổ động, tuyên truyền được
viết lại theo cách bình dân cho dễ hiểu. Dân chúng được dạy dỗ trong tinh thần
coi trọng tờ Nhân Dân như Kinh Thánh. Năm 1955, việc xé báo Nhân Dân để gói hàng
hoặc dùng trong nhà vệ sinh cho những việc cần khác bị coi là trọng tội. Việc
đọc báo Nhân Dân không được coi là đọc báo, mà là " học tập". Cho tới nay,
ª m¶t sÓ cÖ quan,
trÜ©ng h†c, việc cán bộ, công nhân viên ở một số cơ quan, trường
học phải tập hợpvào buổi sáng
trước
giờ làm việc để đọc tập thể tờ Nhân dân vẫn còn được duy trì.
Chính vì coi báo
chí như một phương tiện quan trọng hàng đầu trong việc tổ chức quần chúng để
chiếm và giữ chính quyền, nên đảng cộng sản chưa từng buông lơi thứ vũ khí lợi
hại đó. Sau Tháng Tám 1945, những tờ báo mang khuynh hướng quốc gia, hoặc trung
lập phi chính trị, chỉ tồn tại được trong một thời gian rất ngắn. Tới khi nổ ra
cuộc kháng chiến chống Pháp, những tờ báo nói trên bị bóp chết
chính quyŠn c¶ng
sän dÆp t¡t ngay lập tức.
Báo tư nhân, bất kể theo xu hướng nào, cũng chỉ được phép sống
trong một thời gian ngắn, mà cũng chỉ trong hoàn cảnh chính quyền cộng sản trong
thời điểm
nhất định bị bó buộc phải nới lỏng sự kìm kẹp, chẳng hạn như trong
thời gian tiếp quản thành phố Hà Nội năm 1954 hay Sài Gòn năm 1975.
Cảnh một mình một
chợ trong lĩnh vực tuyên truyền được duy trì cho tới nay, mặc dầu số lượng, cũng
như sự phong phú về màu sắc của những tờ báo của
đảng và của
các đoàn thể, các ngành được đảng cho phép tăng vọt sau cái gọi là
"đổi mới" năm
1986..
Ở Việt Nam hiện giờ có tới trên dưới 600 tờ báo đủ loại: báo trung ương, báo địa
phương, báo của các đoàn thể, các ngành chuyên môn, với rất nhiều loại hình khác
nhau, được in bằng kỹ thuật khá tiên tiến.
Số lượng và thể loại dồi dào của báo chí đã tạo ra một ảo ảnh tự do báo chí. Đến nỗi, bị ru ngủ bởi chính ảo ảnh ấy, nhà cầm quyền Hà Nội có lẽ rất thành thực khi tuyên bố rằng ở nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa có tự do ngôn luận đích thực, có tự do báo chí đích thực. Trưóc những lời tuyên bố không ngượng ngùng như thế những nhân vật phản kháng ở trong nước mới đây đòi được ra báo tư nhân như tướng Trần Độ, hoà thượng Thích Quảng Độ chỉ còn có nước nhún vai, cười mỉa.
Sự thực là thế nào? Có hay không có tự do báo chí tại Việt Nam hôm nay?
Tốt hơn hết, hãy khách quan tìm hiểu coi những người lãnh đạo đảng cộng sản nói gì về báo chí Việt Nam thời hiện tại.
Trong bức thư đánh số 19/TTBC đề ngày 26.01.1999, có tính chất mật, trong nội bộ[1], gửi cho các cán bộ chủ chốt của ngành tuyên truyền (các ông Nguyễn Phú Trọng, Phạm Gia Khiêm, Hữu Thọ, Nguyễn Khoa Điềm, và Thường trực Bộ Chính trị) nguyên thủ tướng Võ Văn Kiệt, ngay từ trang đầu tiên, đã khẳng định thêm một lần vai trò quan trọng của báo chí "như một công cụ phục vụ đắc lực sự lãnh đạo, điều hành, quản lý của Đảng, Nhà nước (đối nội cũng như đối ngoại[1])".
BÙc
thÜ cûa m¶t cÓ vÃn Trung ÜÖng ñäng hi‹n nhiên không phäi là m¶t chÌ thÎ[1],
nhÜng nó xuÃt phát tØ væn phòng cûa nguyên thû tܧng Võ Væn KiŒt, cho ljn nay
vÅn còn nhiŠu uy tín, hoàn toàn có Çû
sÙc månh cûa s¿
kh£ng ÇÎnh m¶t quan niŒm, m¶t chû trÜÖng cûa ñäng c¶ng sän.
Chủ trương này là nhất quán. Trước Võ Văn Kiệt không ai nói khác. Sau Võ Văn Kiệt chắc cũng vậy.
Bức thư trước hết cho thấy Võ Văn Kiệt vẫn đứng trên lập trường của nhà cầm quyền Việt Nam, có điều ông ta nhận ra sớm hơn các bạn đồng liêu chủ quan mối đe doạ xuất phát từ sự bùng nổ thông tin toàn cầu, và từ đó, sự cần thiết phải chống lại ảnh hưởng của nó đang dội vào Việt Nam ngày một mạnh mẽ, đe doạ độc quyền thông tin của đảng. Do đó ông kêu gọi đảng phải kiện toàn tổ chức báo chí, cải tiến nó tốt hơn nữa, cho phù hợp với nhu cầu của hôm nay.
Ngay từ những dòng đầu tiên ông Võ Văn Kiệt đã nhấn mạnh: "Để khai thác được lợi thế mới của công nghệ thông tin đồng thời đối phó, hạn chế những tác động tiêu cực, chúng ta cần có một chiến lược mới..." cho mọi loại hình báo chí (bao hàm báo chữ, báo tiếng, báo hình)". " Chúng ta quản lý, hướng dẫn tất cả các đài báo tuyên truyền theo đúng chủ trương, đường lối của Đảng".
Tức là, không giấu giếm, ông thủ tướng hồi hưu nói rằng báo chí vẫn phải làm đúng chức năng cái loa của đảng.
ñĐi
vào chi tiết, ông thủ tướng hưu trí dặn dò những cán bộ ngày
hôm qua của ông:
1/ Phải phối hợp nhịp nhàng, kẻ tung người hứng trong việc đưa tin giữa hai loại báo: loại chính thức của Đảng và Nhà nước, loại không thuộc hệ chính thức, tức là báo chí của các đoàn thể, các ngành. "Chẳng hạn, Võ Văn Kiệt viết, trong khi báo chí chính thống không nói nhiều và nói kỹ về vấn đề Việt kiều bị sát hại ở Campuchia, Trung Quốc lấn chiếm trên biển, trên đất liền, Mỹ lớn tiếng nói nhân quyền, nhưng lại đem quân xâm lược nước ta và gần đây nhất là với Irak; không phê phán nhiều các hành vi lợi dụng tôn giáo, tín ngưỡng, gây bất ổn định xã hội... thì các báo không chính thống lại rất nên đưa (những tin này)". Ông nói rõ thêm: "Đến lúc cần thiết thì các đài báo của Đảng, Nhà nước có thể điểm, trích dẫn lại từ các báo "không chính thống" này mà không cần bình luận thêm". Tức là, báo của Đảng không có ý nói tới những cái đó, nhưng các báo khác đã nói tới cho nên phải trích lại. Ông than phiền về tình trạng các báo không trực thuộc đảng cứ làm như cách mình là báo đảng: "Các báo của đoàn thể, hiệp hội... không nhất thiết và không nên lúc nào cũng đóng vai người phát ngôn chính thức của Đảng, của Nhà nước ta".
Xem ra Võ Văn Kiệt không phải chỉ là nhà chiến lược, ông còn là nhà chiến thuật tỉ mẩn.
2/ Cần phải nắm vai trò chủ động trong việc thông tin. Võ Văn Kiệt viết: "Có những trường hợp ta coi vấn đề là tế nhị (như sự kiện Thái Bình) không cung cấp thông tin và không cho phép báo chí trong nước đưa tin nên đã vô hình trung "bỏ ngỏ trận địa" để cho các phương tiện truyền thông nước ngoài mặc sức hình thành nên dư luận. Tới lúc ta phải lên tiếng thì việc đánh tan dư luận cũng gặp nhiều khó khăn. Tình trạng nhiều thông tin liên quan tới nước ta từ nước ngoài dội vào (ta muốn cũng không ngăn được hết) mà báo chí trong nước cứ im lặng còn là cái cớ để nước ngoài phê phán ta vi phạm nhân quyền, không có tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng. Một bộ phận nhân dân trong nước có điều kiện tiếp xúc với thông tin bên ngoài cũng "bán tín bán nghi" về luận điệu phê phán đó".Ông cho rằng để khắc phục tình trạng đó cần phải "cải tiến quy trình chỉ đạo thông tin từ cấp Trung ương sao cho thật linh hoạt, năng động, đủ sức xử lý, ứng phó kịp thời trước các tình huống phức tạp".
3/ Cần phải dùng báo chí trong việc hình thành (tạo ra) những dư luận xã hội.
Đây là thủ thuật quen thuộc của ngành báo chí của nhiều quốc gia độc tài, không riêng cho báo chí của các quốc gia cộng sản. Trong bức thư Võ Văn Kiệt thấy cần phải nhắc lại điều bí mật cả làng đã biết này có lẽ vì ông cho rằng trong không khí cạnh tranh của kinh tế thị trường, nhiều tờ báo thiếu sốt sắng với Đảng đã lơ là đối với việc tạo dư luận xã hội theo ý đảng muốn, mà chỉ chạy theo thị hiếu của độc giả cốt để bán báo cho chạy. Có lẽ ông cũng thành tâm cho rằng báo chí phải biết thăm dò dư luận xã hội, đề xuất những ý kiến, tham gia vào việc hình thành những chính sách của nhà nước để xây dựng đất nước. Điều này cho thấy Võ Văn Kiệt, trong vô thức, có ý muốn lấp chỗ trống của sự phê bình đối lập lẽ ra phải có trong một xã hội công dân bình thường bằng cái "công cụ phục vụ đắc lực" mà đảng cộng sản của ông có sẵn trong tay.
4/ Trong tình hình "cái sợ" bao trùm mọi lĩnh vực văn hoá văn nghệ, các nhà báo không dám làm gì khác hơn là cục cựa trong vòng phấn do đảng quy định, là cái sẽ cản trở sự cải tiến cần có, Võ Văn Kiệt nhận xét. Ông than phiền chuyện các cơ quan quản lý văn hoá văn nghệ thậm chí giám sát cả đến những vấn đề cụ thể như khổ báo bằng nào, tên tổng biên tập để ở đâu trên mặt báo, thang nhuận bút như thế nào trong tờ báo, địa bàn phát hành là khu vực nào, văn phòng đại diện đặt ở đâu... Võ Văn Kiệt đòi đảng phải trao nhiều quyền vặt nói trên cho các báo, đài, để cho các ban biên tập tự giải quyết. Ông gọi tình trạng này là lối "can thiệp cầm tay chỉ việc", " áp đặt". Ông đòi "phải có "đối thoại" thường xuyên, thực sự, chứ không phải họp truyền đạt một chiều", giữa cơ quan quản lý báo chí, các cơ quan Đảng, nhà nước với các ban biên tập. Ông đặt vấn đề: "tổng biên tập các báo đài đều do các cấp uỷ Đảng, chính quyền lựa chọn, bổ nhiệm, cho nên cần phải tin tưởng ở anh em". "Việc hành nghề hay, dở, đúng, sai, thực chất do Ban biên tập và đội ngũ ở đó quyết định, không có một cơ quan nào có thể làm thay". Theo ý Võ Văn Kiệt, việc quản lý báo chí phải được quy định như sau:
· Ban Văn hoá Tư tưởng (của đảng) thực hiện sự lãnh đạo toàn diện của Đảng đối với công tác này qua Ban Cán sự đảng Bộ Văn hoá Thông tin.
· Bộ Văn hoá Thông tin có chức năng trách nhiệm là cơ quan quản lý nhà nước về thông tin.
Qua ý kiến có vẻ đấu tranh cho tiến bộ này của Võ Văn Kiệt, ta thấy ông ta lúng túng trong việc đề xuất một sự phân nhiệm quản lý báo chí. Sự phân nhiệm này không thể thực hiện nổi trong một bộ máy cồng kềnh, với hai bộ phận chồng chéo thực hiện cùng một chức trách, do đó chỉ làm được một việc là dẫm chân lên nhau.
4/ Với tư cách một người quan tâm nhiều tới mặt trận kinh tế trong thời kỳ làm thủ tướng, Võ Văn Kiệt cho rằng hiện nay, trong điều kiện kinh tế thị trường, có những vấn đề cấp thiết phải đặt ra, là:
· Việc cung cấp thông tin phải đầy đủ, kịp thời." Nhiều doanh nghiệp than phiền tình trạng thiếu thông tin từ những văn bản quyết định của Nhà nước đến những thông tin về hàng xuất, hàng nhập, cấp quota, đấu thầu, thị trường trong nước và quốc tế, Võ Văn Kiệt viết. Những thông tin liên quan tới tình hình tài chính, ngân hàng lại càng hiếm hoi".
· "Cần quy định rõ những thông tin nào được coi là bí mật quốc gia, ai là người có trách nhiệm và thẩm quyền quyết định đó là bí mật quốc gia để tránh tình trạng quy định tràn lan và tình trạng các cơ quan, cán bộ muốn được "yên thân" nên ngại cung cấp tin tức cho báo chí".
Chúng ta có thể tin Võ Văn Kiệt. Là thủ tướng trong nhiều năm, ông biết rất rõ tình trạng bưng bít thông tin đối với đại chúng là thế nào. Ông không thể đồng tình với sự bưng bít thông tin ấy, với tư cách một thủ tướng đang muốn nâng nền kinh tế lên trong thời kỳ mình đương nhiệm. Người Việt Nam chỉ được phép biết những gì đảng cộng sản cho phép biết. Và nếu như vậy thì những doanh nghiệp Việt Nam sẽ sống sao nổi trong sự cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài, là những kẻ có quyền hơn hẳn họ trong việc đòi phía Việt Nam phải cung cấp cho họ thông tin? Bằng cách bưng bít thông tin, chính quyền của đảng cộng sản đang làm hại nền kinh tế của đất nước.
5/ Trong bức thư này Võ Văn Kiệt đặc biệt lưu tâm công tác đối ngoại của báo chí. Ông đặt vấn đề:
Điều dặn dò này dường như đã được thực hiện, bởi vì gần đây hoạt động phát triển truyền thông ra nước ngoài của chính quyền Hà Nội chủ yếu nhằm vào cộng đồng người Việt ở nước ngoài đã có những dấu hiệu rõ nét. Trưóc hết là sự củng cố những tờ báo do sứ quán Việt Nam phát hành tại Nga và Đông Âu. Đã có một Web site của một Công ty truyền thông Việt Nam phát tại Nga. Đã có một mưu toan chưa thành (hoặc không thành) thuê một kênh phát sóng truyền hình để tiếp vận đài truyền hình Hà Nội và Sài Gòn đặt tại Thuỵ Sĩ và phát sóng qua mạng vệ tinh châu Âu.
Ngoài ra, bức thư còn đề cập nhiều mặt về cải tiến tổ chức, huấn luyện cho ngành truyền thông Việt Nam hiện nay như việc ra báo theo khu vực trọng điểm kinh tế; xây dựng tổ hợp thông tin, với tư cách những doanh nghiệp; củng cố các trường đào tạo báo chí bằng cách tham khảo chương trình đào tạo bậc đại học quốc tế và khu vực; có cơ chế đào tạo ngắn hạn (cấp phép, lập quỹ trích tư phần thuế giảm thu...) cho các báo, các đài; đào tạo đội ngũ thày giáo dạy nghề báo chí; thành lập Viện nghiên cứu báo chí vv...
Võ Văn Kiệt còn đề nghị có cơ chế khuyến khích việc báo chí tự hạch toán kinh doanh, chấm dứt bao cấp. Đồng thời, ông vạch ra những điều bất hợp lý trong việc đối xử với báo chí, với tư cách doanh nghiệp. Ông viết: " Hiện nay, trong xã hội báo chí được quan niệm là thuộc lĩnh vực "sự nghiệp có thu". Luật báo chí thì không coi báo chí như một công ty, luật công ty thì quy định muốn thành lập công ty kinh doanh báo chí thì phải được thủ tướng chấp thuận ... Ngành thuế lại áp dụng các loại thuế đối với báo chí như một "công ty kinh doanh dịch vụ: ngoài thuế doanh thu phát hành (0,5%) và quảng cáo (10%), mức thuế lợi tức mà báo chí phải đóng là 35% (từ năm 1999 mức này là 32%)".
Không có gì mới trong lĩnh vực tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam.
Nó là, như người ta nói, Vũ Như Cẫn.
Nghĩa là Vẫn Như Cũ.
Mới chỉ có những mưu toan cải tiến nền chuyên chế trong lĩnh vực này, để cho ngành truyền thông - công cụ phục vụ đắc lực của Đảng - trở thành hữu hiệu hơn nữa.
Và cũng để cho cái công cụ ấy ít vòi tiền Đảng hơn nữa. Bởi túi tiền của Đảng đã rỗng.
Thiên Vũ
nhà báo