Vụ Án Công Giáo |
Phỏng vấn Lm Trần Xuân Tâm: Hiện Tình Giáo Hội Công Giáo VN
Lời giới thiệu của VNN : Giáo Hội Công Giáo Việt Nam tại quê nhà có thực sự bị đàn áp không? Quan hệ êm ả giữa chế độ CSVN và Giáo Hội trong năm qua thực chất như thế nào ?. CSVN hiện nay đối phó với Tôn giáo bằng bạo lực hay bằng pháp luật nghiêm minh ?. GHCGVN đang biến chất ?. Có thỏa hiệp được không giữa niềm tin và bạo lực ?. Cha Lý đã thực sự bị đầu độc ? v.v... Kính mời Quý vị theo dõi những nhận định cùng những tâm tình chia sẻ của Linh Mục Trần Xuân Tâm, thuộc Tổng Giáo phận Washington DC, qua cuộc phỏng vấn đặc biệt sau đây do phóng viên Võ Triều Sơn thực hiện.
| Sơ lược Tiểu sử Linh Mục Trần Xuân Tâm : |
Sinh năm 1967 tại Đà Nẵng, người gốc Giáo xứ Phủ Cam, Huế. |
Linh Mục TRẦN XUÂN TÂM: Xin chào anh Võ Triều Sơn. Xin cảm ơn anh đã cho tôi dịp được gặp anh trên diễn đàn của hãng thông tấn VNN. Đúng là tôi có về Việt Nam, đi theo phái đoàn viên chức của Quốc hội và Ủy hội Tự do Tôn giáo Quốc tế của Mỹ, phái đoàn đến Hà Nội ngày 7 và rời Sài Gòn ngày 14.1. Rất tiếc là tôi không có mặt trong cuộc gặp gỡ giữa phái đoàn và Cha Nguyễn Văn Lý trong trại Ba Sao Nam Hà. Tôi không làm việc cho chính phủ Mỹ, tôi chỉ đi theo để giúp thông dịch và giúp liên lạc. Rồi vì những tế nhị ngoại giao sao đó, Toà đại sứ Mỹ ở Việt Nam cố tình không thông báo cho chính quyền cộng sản Việt Nam rằng tôi đi với phái đoàn và giúp cho công việc của phái đoàn. Cho nên khi biết tôi có mặt trong phái đoàn, có lẽ vịn vào những lý do đó, chính quyền cộng sản cho biết họ không muốn tôi có mặt trong các buổi làm việc giữa họ và phái đoàn. Thứ Năm ngày 8 tháng 1, ông Sam Brownback và phái đoàn làm việc với giới chức cao cấp trung ương của chính quyền cộng sản và ngay sau đó với sự đồng ý của họ phái đoàn được đưa thẳng tới trại Ba Sao để thăm Cha Lý. Tôi không được phép dự buổi làm việc nên cũng không đi theo được tới trại giam.
Về nhận định của các viên chức Mỹ cũng như của ông Thượng nghị sĩ Sam Brownback đối với chuyến đi Việt Nam này thì tôi không thể chính thức nói thay cho họ được. Muốn biết quý vị cứ xem lại những tin tức đài báo về cuộc tường trình tại Quốc hội Mỹ do các viên chức ấy tổ chức sau khi trở về cũng như buổi điều trần mới đây của ông Brownback cũng tại Quốc hội. Tôi chỉ có thể nói được rằng chuyến đi tuy chỉ có 7 ngày nhưng đủ cho mấy viên chức đó một kinh nghiệm nào đó về tình trạng ngột ngạt, chèn ép, không có tự do thực sự ở Việt Nam về mặt tôn giáo cũng như về các nhân quyền căn bản khác. Ngoài ra, riêng ông George Phillips, một trong ba thành viên của phái đoàn, có cho tôi biết thêm là ông rất cảm phục và rất được khích lệ trước sự can đảm của những người mà phái đoàn trực tiếp gặp như gia đình của anh Nguyễn Khắc Toàn, Hòa Thượng Thích Thiện Hạnh, vợ Bác sĩ Nguyễn Đan Quế, Cha Chân Tín, và một số các Mục sư Tin Lành trong đó có Mục sư Nguyễn Hồng Quang.
VNN: Cảm ơn Linh Mục. Có dư luận cho rằng CSVN đã đầu độc Cha Lý trong thời gian biệt giam ngài. Linh Mục nghĩ sao về điều nầy ?
Linh Mục TRẦN XUÂN TÂM: Để chính xác hơn tôi xin gọi là "tẩy não" thay vì đầu độc: tẩy não là đầu độc về mặt tâm lý, tinh thần. Tôi không cho là việc chính quyền cộng sản VN tẩy não Cha Nguyễn Văn Lý là một dư luận. Tôi nghĩ là đã có đầy đủ chứng cớ để kết luận đó là một sự kiện có thật, đặc biệt qua sự tường thuật của anh Nguyễn Văn Dũng, cháu ruột của ngài, là người thường xuyên thăm nuôi Cha từ khi ngài bị đưa vào trại Ba Sao Nam Hà. Tôi đã ghi lại bài tường thuật này và đã phổ biến sau khi về lại Mỹ. Trong bài tường thuật tôi cũng có trình bày những nhận định riêng của mình trước sự kiện Cha Lý bị tẩy não.
VNN : Linh Mục nhận định thế nào về hành động ác độc nầy của nhà cầm quyền CSVN đối với Cha Lý ?
Linh Mục TRẦN XUÂN TÂM : Xin xem lại những nhận định của tôi ở trong bài tường thuật vừa nói. Ở đây tôi chỉ xin nói đến hai điểm thôi.
Thứ nhất, việc tẩy não đó là một bằng chứng rằng nhà cầm quyền cộng sản đã thất bại, không thể dùng những đày đọa thể lý trong chốn lao tù hay bằng những bêu nhọ công khai trước đây để khuất phục được sự can đảm kiên cường của Cha Lý. Việc dùng các thứ thuốc độc tâm thần tinh vi kết hợp với những thủ đoạn khác, ví dụ như phương pháp tạo ra những phản xạ có điều kiện của Pavlov được hiện đại hóa, đương nhiên giết chết, dù có thể chỉ là tạm thời, những điều kiện thể lý và tâm lý mà thiếu chúng sức mạnh của ý chí, của tinh thần không thể nào thi triển được. Không cho đối phương có ngay cả một vài điều kiện tối thiểu nhất để giao đấu thì làm sao có thể gọi là thắng được đối phương. Cho nên kết quả đạt được bằng những thủ đoạn tẩy não đó không thể xem là sự chiến thắng của chính quyền CS được, dù là chiến thắng với ý nghĩa tồi tệ, bẩn thỉu nhất, ví dụ như khi khuất phục một ai đó hoặc bằng cách đem tính mạng của gia đình họ ra để uy hiếp hoặc bằng cách dùng những tra tấn thể lý dã man đối với họ.
Thứ hai, việc tẩy não đó còn là một bằng chứng cho thấy rõ thêm tính chất bệnh hoạn cuồng dại của sự độc tài toàn trị cộng sản. Chỉ có sự độc tài toàn trị cộng sản mới thèm muốn sự thống trị trong tư tưởng lập trường của cá nhân người khác đến mức độ nếu không khuất phục được thì "tẩy não", biến kẻ thù của nó thành một thứ "người máy" nói theo tư tưởng lập trường của nó. Không có chế độ độc tài nào khác lại hí hửng với việc "nhận tội" và "tiến bộ trong nhận thức" của một con người nếu đã bị nó biến thành một thứ "người máy" để chỉ có thể phát ra những gì đã được nó ghi âm vào trước đó.
VNN : Như vậy, theo Linh Mục nghĩ, đồng bào hải ngoại cần có thái độ thế nào trước sự kiện đau buồn này ?
Linh Mục TRẦN XUÂN TÂM: Tôi nghĩ đồng bào Việt Nam ở hải ngoại đáng phải cảm phục Cha Lý hơn nữa trước sự kiện tẩy não này, vì như tôi vừa nói nó chứng tỏ Cha Lý quá can đảm và kiên cường nên chính quyền cộng sản không thể khuất phục được mà phải dùng đến biện pháp tẩy não. Đương nhiên người Việt hải ngoại đồng thời không thể không thương Cha Lý nhiều hơn đứng trước tình trạng hiện nay của ngài. Cho nên, đồng bào ở hải ngoại phải tranh đấu vận động sao đó để thế giới can thiệp gây áp lực với chính quyền cộng sản VN cho được hai điều sau. Thứ nhất, Cha Lý phải được trả tự do lập tức và vô điều kiện. Thứ hai, phải cấp tốc có được một phái đoàn từ ngoại quốc vào và có thẩm quyền chuyên môn gồm những bác sĩ và chuyên gia tâm thần đến VN để thăm Cha và điều tra về tình trạng thể lý cũng như tâm lý của ngài hiện nay. Mong rằng hai điều này đạt được để Cha Lý sớm được giải thoát khỏi tình trạng bị tẩy não hiện nay. Cuối cùng, giả như cho dù Cha Lý không có bị tẩy não đi nữa thì đồng bào hải ngoại không có gì phải ngạc nhiên trước những lá thư này nọ gọi là của ngài từ trong tù gửi ra. Trái lại, đồng bào nên làm theo lời tuyên bố của Cha ngày 19 tháng 3 năm 2001 trước khi bị bắt: xem như vô giá trị tất cả những gì từ trong tù gửi ra, cho dù là của Cha viết đi chăng nữa, mà mâu thuẫn với nội dung, lập trường, và tinh thần của cuộc tranh đấu cho tự do tôn giáo và các nhân quyền căn bản khác mà ngài đã khởi xướng và nêu gương đi đầu. Và do đó, đồng bào hải ngoại phải tiếp tục duy trì và phát triển tinh thần, lập trường, và nội dung cuộc tranh đấu đó của Cha Lý.
VNN : Là một Linh mục Công giáo, Linh Mục có những chia sẻ như thế nào đối với Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất trong cơn Pháp nạn hiện nay tại quê nhà ?
Linh Mục TRẦN XUÂN TÂM: Là một tín hữu Công giáo tôi không dám nói mình biết rõ về hiện tình GHPGVNTN tại quê nhà hơn là những tín đồ của Giáo hội, nhất là những người đang ở trong cuộc. Về mặt thông tin, ngoại trừ những gì được loan báo trên các phương tiện truyền thông về sự đàn áp GHPGVNTN mà những ai theo dõi đều đã biết, những gì cụ thể tôi biết thêm qua cuộc gặp gỡ với Hòa Thượng Thích Thiện Hạnh tại Huế trong chuyến đi Việt Nam với phái đoàn Mỹ, thì tôi đã phổ biến cách đây mấy hôm trong bài tường thuật về thời gian ở Huế của phái đoàn. Về mặt tâm tình thì tôi xin chia sẻ với những đau thương mà các tăng ni, phật tử của GHPGVNTN đã, đang, và tiếp tục gánh chịu từ sự đàn áp thâm độc và thô bạo của chính quyền cộng sản. Tôi hoàn toàn ủng hộ tinh thần phản kháng bất bạo động nhưng can đảm và kiên cường của các tăng ni, Phật tử nhằm bảo vệ sự nguyên tuyền và độc lập của GHPGVNTN xét về cơ cấu lẫn đạo pháp đối với âm mưu thống trị của chính quyền cộng sản, muốn biến Giáo hội thành phương tiện phục vụ cho sự độc tài toàn trị của nó. Tôi tin tưởng chắc chắn rằng lý tưởng từ bi siêu thoát của Phật giáo có sức mạnh vượt thắng mọi sự đàn áp thâm độc của chế độ cộng sản. Hơn nữa, dầu nhìn theo giáo lý Công giáo chỉ có Giáo hội mà Chúa Giêsu thiết lập mới là con đường hay phương thế cứu rỗi theo ý nghĩa thích hợp nhất, nhưng đối với một tôn giáo có rất nhiều giá trị chân thật và tốt lành về mặt luân lý và tâm linh như Phật giáo và do đó rất hữu ích cho chương trình cứu rỗi của Thiên Chúa, thì tôi vẫn cầu nguyện và hy vọng rằng Thiên Chúa sẽ gìn giữ bảo tồn không chỉ những giá trị chân thiện mỹ trong Phật giáo mà còn ngay cả cơ cấu tổ chức của Phật giáo, dù ở trên thế giới hay ở Việt Nam, mà những giá trị đó cần đến để tồn tại và phổ biến. Mà đứng trước quyền năng của Thiên Chúa thì bạo lực của sự dữ như của chế độ cộng sản chắc chắn sẽ bị đánh bại.
VNN : Cảm ơn Linh Mục. Tin tức gần đây cho biết nhiều nhà thờ của Giáo Hội Tin Lành (GHTL) trong nước đã bị CSVN phá sập, nhiều Mục sư và tín hữu đã bị bạo quyền hành hung và trấn áp tàn bạo. Xin Linh Mục cho biết cảm nghĩ như thế nào trước những đau thương nầy của GHTL tại quê nhà ?
Linh Mục TRẦN XUÂN TÂM: Lợi dụng lực lượng nhỏ bé của mỗi GHTL, chính quyền cộng sản sau năm 75 đã giải tán hầu hết các cộng đoàn, đóng cửa hầu hết các nhà thờ Tin Lành. Tuy nhiên, không phải vì thế mà chính quyền cộng sản đã dẹp được đức Tin Kitô giáo ở nơi các anh chị em Tin Lành, không những tuyệt đại đa số vẫn giữ vững đức Tin mà trái lại còn kín đáo loan truyền ra cho những người chưa tin Chúa Kitô. Trong vòng mười, mười lăm năm trở lại đây, vì tình thế thay đổi do việc bang giao với ngoại quốc và mở cửa kinh tế nên chính quyền cộng sản bắt buộc phải nới lỏng cách này cách khác. Trước hoàn cảnh đó, nhiều cộng đoàn Tin Lành từ trước vốn quy tụ và sinh hoạt kín đáo, thầm lặng, thì nay bắt đầu ra công khai. Đương nhiên, phần lớn vì nhà thờ vốn có trước đây đã bị tịch thu nên các cộng đoàn Tin Lành phải nhóm họp sinh hoạt tôn giáo tại tư gia. Đương nhiên, chuyện được phép mở học viện chủng viện đào tạo Mục sư, Truyền đạo lại càng không thể được chính quyền cho phép. Nên để đáp ứng nhu cầu mục vụ chăm sóc, dạy dỗ cộng đoàn, các Mục sư Tin Lành không thể không tự mở những khoá, những trường huấn luyện chui hay bán công khai gần đây. Khi thấy sự đàn áp thô bạo và khốc liệt trước đây không tiêu diệt được các GHTL trái lại làm cho các Giáo hội đó lan rộng hơn, chính quyền cộng sản đương nhiên không thể không hoảng sợ. Ở những nơi xa xôi hẻo lánh như ở các cao nguyên Trung phần và ở các vùng núi phía Bắc thì chính quyền tiếp tục dùng bạo lực đàn áp thẳng tay, thậm chí bắt các anh chị em Tin Lành thuộc các dân tộc thiểu số phải bỏ đạo. Còn ở những thị trấn đông người hay những thành phố lớn thì chính quyền tuy không từ bỏ sự đàn áp bằng bạo lực, dù có thể không cùng một mức độ như trước, nhưng bổ sung nó bằng sự đàn áp theo luật pháp, dĩ nhiên theo cách cắt nghĩa luật của chính quyền nhiều lúc rất tuỳ tiện và tự mâu thuẫn, đặc biệt đối với việc nhóm họp sinh hoạt tôn giáo của cộng đoàn tại tư gia và việc đào tạo mục sư và truyền đạo cách chui hay bán công khai. Tóm lại, nếu nói tình cảnh sinh hoạt tôn giáo hiện nay của anh chị em Tin Lành có "khá hơn đôi chút" chỉ là theo nghĩa trước đây thì đàn áp triệt để và toàn diện 100% thì bây giờ có bớt đi đôi chút còn 85 hay 90% chẳng hạn. Nói cách khác, phần lớn các Giáo hội Tin Lành vẫn còn bị chính quyền không thừa nhận, xem như là những tổ chức bất hợp pháp. Kể qua như vậy để cho thấy tình trạng đàn áp mà anh chị em Tin Lành đang chịu đựng đau thương biết là chừng nào. Nhưng thấy sự khó khăn bách hại mà anh chị em Tin Lành đang chịu đựng lại khiến tôi càng cảm phục sự kiên trì và can đảm của họ. Điều này vừa là hoa quả vừa là biểu lộ của sức mạnh đức Tin, sức mạnh của ơn Chúa, và cũng qua đó mà anh chị em Tin Lành truyền bá cách hữu hiệu và đầy sức thuyết phục đức Tin của họ dù ở trong những hoàn cảnh hết sức khó khăn. Bằng nhiều cách khác nhau anh chị em Tin Lành thuộc về cùng một Giáo hội tức Thân mình của Chúa Giêsu giống như các tín hữu Công giáo. Cho nên có sự thông công với nhau về ích lợi thiêng liêng cũng như về những đau khổ vì đức Tin. Nếu mọi tín hữu Công giáo Việt Nam có bổn phận cầu nguyện cho tự do tôn giáo của đồng bào các tôn giáo khác thì họ càng phải làm vậy hơn nữa đối với các tín hữu Tin Lành, là những anh chị em của họ trong cùng một phép Rửa tội, cùng một đức Tin ít nữa trong phần lớn nội dung căn bản.
VNN : Con cũng được biết, trong chuyến đi nầy, Linh Mục có gặp Cha Chân Tín. Sức khoẻ và công việc của ngài hiện nay ra sao ? Và ngài nghĩ thế nào về Cha Lý ?
Linh Mục TRẦN XUÂN TÂM: Cha Chân Tín dù trên 80 tuổi nhưng vẫn khoẻ khoắn về mặt thể lý, vẫn vui vẻ và năng động về mặt tinh thần. Còn lập trường và tinh thần bảo vệ tự do tôn giáo, nhân quyền, và chống độc tài toàn trị của ngài thì chẳng những không hề suy giảm chút nào mà còn mạnh mẽ, triệt để, và dứt khoát hơn nhiều so với những phản kháng của ngài trong vụ Phong Thánh Tử đạo Việt Nam năm 1988 cũng như bốn bài giảng nổi tiếng trong nhà thờ Kỳ Đồng năm 1990 (ba bài trong đó được biết đến như là ba bài giảng "sám hối"). Có thể nói, nếu tôi không lầm, hình như ở trong nước chỉ có Cha Nguyễn Văn Lý, Cha Chân Tín, Cha Phan Văn Lợi, và Cha Nguyễn Hữu Giải có thái độ triệt để và dứt khoát với chế độ cộng sản độc tài toàn trị đến mức công khai đòi hỏi nó phải giải thể hoàn toàn. Rồi ngay sau khi Cha Lý vừa phát động cuộc tranh đấu cuối năm 2000 thì Cha Chân Tín liền công khai ủng hộ tinh thần, lập trường, và nội dung của cuộc tranh đấu đó. Cha cũng tiếp tục công khai và mạnh mẽ bảo vệ Cha Lý, phản đối và lên án việc chính quyền cộng sản bắt giam, kết án, cũng như tẩy não ngài. Việc Cha Lý bị tẩy não không làm suy giảm sự kính trọng trong lòng Cha Chân Tín đối với ngài, trái lại còn khiến cho Cha Chân Tín cảm phục ngài hơn, xem trường hợp của ngài như một thứ tử đạo.
VNN : Kính thưa Linh Mục, khi phái đoàn Mỹ gặp Cha Chân Tín, ngài có gửi cho phái đoàn một bản Tường trình về thực trạng tôn giáo trong GHCGVN. Trong bản tường trình, Cha Chân Tín cho biết rằng CSVN hiện nay đàn áp tôn giáo rất tinh vi bằng hệ thống luật pháp, và với những luật lệ tròng tréo nhau, CSVN có quyền bắt bớ hay bỏ tù các tín đồ với lý do vi phạm pháp luật chứ không phải vì lý do sinh hoạt tôn giáo. Xin Linh Mục giải thích cho biết bản chất vấn đề này như thế nào ?
Linh Mục TRẦN XUÂN TÂM : Việc đàn áp sinh hoạt và tự do tôn giáo bằng luật pháp đã có từ trong quá khứ rồi: luật này cho thì luật kia cấm, luật này định nghĩa những sinh hoạt này nọ là thuần tuý thuộc phạm vi tôn giáo, thì luật kia lại đòi hỏi phải xin phép trước khi làm những sinh hoạt ấy. Nói cách khác tức là dùng luật này để giới hạn hay thậm chí phủ nhận luật kia. Nhưng thực tế mà nói thì trong quá khứ chính quyền cộng sản quá mạnh nên chủ yếu dùng bạo lực của tra tấn, của nhà tù, của trại lao động cưỡng bức, của nòng súng, vv... để đàn áp tôn giáo. Nếu có nại đến luật pháp thì chủ yếu chẳng qua cũng chỉ là nại đến mấy nhóm từ vu vơ hết sức mơ hồ như "lợi dụng tôn giáo, phá hoại trật tự an ninh xã hội, vv...", một cái đuôi thường được thòng vào đàng sau mấy điều luật về tôn giáo. Tuy luật của chính quyền cộng sản VN trong quá khứ về tôn giáo khá sơ sài, quá chung chung, rất nhiều sơ hở, nhưng cái đuôi thòng vào đó đủ để bù đắp, bao bịt hết. Khi không muốn cho phép tôn giáo làm điều này điều nọ, dù thuần tuý thuộc về lĩnh vực tôn giáo, thì chính quyền chỉ cần nói là vì sợ các anh lợi dụng tôn giáo. Cũng như khi xử phạt kết án các tù nhân tôn giáo thì chính quyền thường gán cho họ cái tội danh là "lợi dụng tôn giáo" để làm này làm nọ. Dĩ nhiên không có luật nào của chính quyền định nghĩa hay giải thích những "hành vi lợi dụng tôn giáo", cụ thể chính xác đó là những hành vi nào, nên chính cái đuôi thòng vào đó đã hợp pháp hóa cho chính quyền độc tài tha hồ và tuỳ tiện cấm đoán xử phạt các tôn giáo. Nhưng cho dù có những trường hợp sự vô lý mâu thuẫn quá lớn, quá hiển nhiên trong cách dùng luật của chính quyền, thì nạn nhân cũng chẳng làm được gì: khi không thể nại đến luật thành văn thì đã có sẵn bạo lực chuyên chính vô sản ở đó để xài luật rừng.
Nhưng từ hơn một thập niên gầy đây chính quyền cộng sản thấy rõ bạo lực bằng sức mạnh của súng đạn không đủ để kéo dài chính sự sinh tồn của nó, cần phải có sức mạnh của đồng tiền nữa. Đàn áp hoài mà không chịu làm ăn vơ vét và tích lũy thì có ngày cũng chết như đàn anh Liên Xô cũ. Cho nên phải bang giao với Âu Mỹ, phải mở cửa kinh tế, làm ăn với ngoại quốc, với tư nhân, và do đó không thể không tạo điều kiện cho sự thối nát sẵn có của chính cơ chế chính quyền cộng sản cũng như của các cá nhân làm việc cho nó, từ quan nhỏ đến quan lớn, tha hồ mà gia tăng và bành trướng. Hệ quả là dù không muốn, chính quyền vì yếu đi nên không thể đàn áp tôn giáo hoàn toàn y hệt như trước kia. Đàng khác, chính quyền ít nhiều phải tỏ ra là nó tôn trọng luật pháp của chính nó đặt ra thì mới mong nước ngoài tin tưởng mà làm ăn với nó. Tín đồ các tôn giáo phần nào nhờ vậy cũng bắt đầu không còn cắn răng làm nạn nhân như trước. Họ bắt đầu công khai "lý luận" lại với chính quyền mỗi lần bị cấm đoán, đàn áp. Cho nên việc tín đồ các tôn giáo "dùng gậy ông đập lưng ông", dùng chính luật của chính quyền để bắt bẻ lại chính quyền, bắt đầu xuất hiện khá nhiều. Chính quyền cộng sản bắt đầu cảm thấy núng thế phần nào. Không thể xài luật rừng của bạo lực 100% như trước. Nại đến cái đuôi mơ hồ và vu vơ "lợi dụng tôn giáo ..." thì đối với Âu Mỹ không khác gì là xài luật rừng. Thật vậy càng ngày càng ít thấy chính quyền nại đến cái đuôi đó trong các bản cáo trạng tôn giáo. Bù lại chính quyền phải tìm cách biến hóa việc hạch sách, bắt bớ, bỏ tù, kết án các tín đồ tôn giáo thành những việc làm hợp pháp xét theo luật dân sự hay hình sự. Nhưng luật lệ hiện thời của chính quyền cộng sản về sinh hoạt và tổ chức tôn giáo đã lỗi thời vì sơ sài, quá chung chung, đầy sơ hở như đã nói trên, nên khách quan không cho phép có tạo ra nhiều biến hóa, ngoại trừ một số ít trường hợp. Việc xử ba người cháu của Cha Lý đủ để cho thấy chính quyền lúng túng, ấm a, ấm ớ tới mức nào đối với chính luật lệ của nó. Ngay cả hai ba cái nghị định như 39 và 26 cũng chỉ là những giải pháp "cấp cứu" tạm thời: các nước Âu Mỹ đều thấy rõ và xem chúng chẳng qua cũng chỉ luật rừng biến thành luật chính thức. Nói tóm tắt một điều: với cái thế kinh tế chính trị hiện thời, chính quyền cộng sản cần phải đàn áp tôn giáo bằng luật pháp nhiều hơn là bằng bạo lực. Nhưng luật pháp hiện hành của nó không đủ cho nó làm vậy. Cho nên cần phải soạn thảo những luật lệ mới về tôn giáo, đúng ra là cả một bộ luật về tôn giáo, sao cho hết sức chặt chẽ, hệ thống, bao trùm. Đó chính là việc mà chính quyền cộng sản hiện làm.
VNN: Cảm ơn Linh Mục đã phân tích rõ. Điều không thể phủ nhận là số tín hữu Công giáo trong nước ngày càng gia tăng và các thánh lễ luôn có đông người tham dự, rồi còn có những cuộc rước kiệu long trọng, rực rỡ mầu sắc v.v... Kính thưa Linh Mục, đây có phải là những dấu chỉ cho thấy Giáo Hội Công Giáo đang được tự do phát triển tại Việt Nam ?
Linh Mục TRẦN XUÂN TÂM: Đây không phải là những dấu chỉ Giáo hội Công giáo đang được tự do phát triển tại Việt Nam. Thánh lễ luôn có đông người tham dự là một thực tế từ cả thế kỷ rồi. Trừ khi đặt Giáo hội Công giáo ra ngoài vòng pháp luật là điều mà chính quyền trong quá khứ cũng muốn làm lắm, nhưng làm không nỗi, thì đương nhiên phải để cho người Công giáo tới nhà thờ dự lễ đọc kinh chứ. Còn một thập niên gần đây chúng ta thấy có nhiều sinh hoạt đạo nhộn nhịp công khai ở ngoài khuôn viên nhà thờ (dù dĩ nhiên vẫn là trong đất của nhà thờ) thậm chí to lớn rầm rộ như những Đại hội Thánh mẫu ở La Vang. Rồi hiện nay có 6 chủng viện với khá đông chủng sinh, có nhiều tân linh mục mỗi năm, có nhiều linh mục được gửi ra ngoại quốc du học, các giám mục được qua Rôma viếng mộ hai thánh Tông đồ Phêrô và Phaolô hay đi họp hành công cán, vv... Dĩ nhiên, tất cả những cái đó là những dấu hiệu chính quyền cộng sản đang nới lỏng để cho Giáo hội có thêm phương tiện sinh hoạt mà phát triển. Cần lưu ý rằng những nới lỏng đó chẳng qua là chuyện chẳng đặng đừng thôi, chứ không phải do chính quyền cộng sản tốt lành hay có thiện chí gì. Cái thế chính trị, kinh tế, xã hội hiện nay bắt buộc nó phải làm vậy để mà tiếp tục tồn tại, có khi lại còn tồn tại cách khéo léo, và ích lợi cho bản thân nó hơn.
Nhưng tự do tôn giáo thực sự vẫn chưa có. Tại sao vậy? Đơn giản trước hết là vì ngay cả những sinh hoạt tôn giáo được nới lỏng hiện nay để có được cũng vẫn cần phải xin phép chính quyền. Cơ chế xin-cho cơ bản vẫn còn đó, như đã bị phê phán trong thư ngỏ mà kín của các Giám mục gửi Quốc hội Việt Nam kỳ họp Hội đồng Giám mục Việt Nam năm 2002, và hai tháng sau đó là thư Tổng giám mục Phạm Minh Mẫn gửi Linh mục Nguyễn Tấn Khóa. Có khác chẳng qua là trước xin thì không cho hay cho rất ít, bây giờ thì cho hay cho nhiều hơn. Nhưng bao lâu mà chính quyền buộc Giáo hội vẫn phải xin phép những cái thuộc về quyền tự do của riêng Giáo hội thì đương nhiên rõ ràng chính quyền vẫn chưa thực sự thừa nhận quyền tự do tôn giáo của Giáo hội. Mặt khác, có một dấu hiệu vẫn còn lù lù ra đó chứng tỏ rõ ràng điều ngược lại, nghĩa là chứng tỏ chính quyền vẫn chưa để cho Giáo hội có tự do tôn giáo thực sự. Đó là việc chính quyền bằng những cản trở hành chính công khai cũng như bằng những thủ đoạn bí mật, vẫn tiếp tục can thiệp, xen vào việc tuyển chọn, đào tạo, bổ nhiệm trong hàng ngũ giáo sĩ, nhất là việc chọn lựa và bổ nhiệm Giám mục. Đối với một Giáo hội có cơ cấu phẩm trật như Giáo hội Công giáo thì việc làm này của chính quyền cộng sản rõ ràng không có mục đích nào khác hơn là qua việc nắm lấy thành phần lãnh đạo của Giáo hội để mà tước đi sự độc lập tự trị của Giáo hội, để lèo lái Giáo hội theo những mục đích có lợi cho chính quyền. Dĩ nhiên, trong thực tế việc làm của chính quyền thành công được bao nhiêu phần trăm lại là chuyện khác, nhưng mục đích và bản chất của việc làm thì rõ ràng là mâu thuẫn với tự do tôn giáo thực sự của Giáo hội. Đó là mới nói chuyện Giáo hội hiện nay có tự do tôn giáo thực sự hay không. Còn giả như trong một ngày nào đó Giáo hội có tự do tôn giáo thực sự, thì điều đó vẫn chưa có nghĩa là Giáo hội lúc đó cũng có tự do tôn giáo hoàn toàn. Dấu hiệu cho thấy Giáo hội có tự do tôn giáo hoàn toàn là khi Giáo hội có thể đứng trên lập trường luân lý của mình công khai phê phán và lên án chính quyền vì những bất công xã hội hay những vi phạm phẩm giá con người của nó mà đồng thời vẫn không bị chính quyền trả thù dưới bất kỳ một hình thức nào.
VNN: Con nghe nói trong chương trình đào tạo Linh mục trong nước hiện nay, có môn học bắt buộc là triết học Mác Lênin. Xin Linh Mục cho biết sự thật như thế nào và điều nầy ảnh hưởng ra sao đối với tương lai của GHCGVN ?
Linh Mục TRẦN XUÂN TÂM: Tôi không biết lúc đầu các chủng viện mới được chính quyền cộng sản cho phép mở cửa thì có phải vậy không. Hiện nay, theo chỗ tôi biết, tất cả các chủng viện ở Việt Nam đều buộc phải có môn công dân giáo dục trong đó chính quyền phái người của nó đến để lên lớp cho các chủng sinh biết phải hành động cư xử thế nào thì mới là một công dân tốt của nó. Nhưng không phải ở chủng viện nào chủng sinh cũng bắt buộc phải học triết học Mác-Lênin. Nguồn tin từ Giáo phận Vinh cho tôi biết là ở chủng viện Vinh Thanh chủng sinh không phải học môn này. Nếu tôi nhớ không lầm ở chủng viện Sài Gòn cũng giống vậy. Và tôi hy vọng là chủng viện Hà Nội cũng giống vậy luôn. Nhưng tin tức từ Huế cho biết thì ở chủng viện Xuân Bích Huế chủng sinh vẫn còn bị bắt buộc phải học Triết học Mác Lênin. Sự kiện chủng viện này có, chủng viện kia không chẳng qua cũng chỉ là do giới hữu trách của Giáo hội có mạnh mẽ và kiên quyết phản đối việc giáo dục cách áp đặt này hay không, chứ về phía chính quyền cộng sản đương nhiên nó muốn cho triết học Mác Lê được dạy trong mọi chủng viện.
Triết học Mác-Lênin gồm hai phần là duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, cái sau chẳng qua chỉ là áp dụng cái trước vào việc giải thích lịch sử. Duy vật biện chứng là một triết học đầy dẫy những ngụy biện nhằm chứng minh cho những sai lầm căn bản như: không có Thiên Chúa; vũ trụ vật chất tự mình hiện hữu; những sinh hoạt tư tưởng và tinh thần nơi con người chẳng qua cũng chỉ là những sản phẩm cao cấp, kết quả của một quá trình tiến hóa biện chứng lâu dài của vật chất; do đó, con người không có linh hồn xét như là một thực tại vô chất, thiêng liêng, có khả năng hiện hữu độc lập với mọi thực tại vật chất, và nhờ vậy bất tử, v.v... Khỏi cần phải nói, duy vật biện chứng chẳng những đối nghịch với đức Tin Kitô giáo mà còn vô lý không thể chấp nhận đối với một nền giáo dục lành mạnh. Cho nên bỏ qua những tác hại trực tiếp đối với đức Tin, về mặt giáo dục nhân bản mà nói thì đã là cả một vấn đề nghiêm trọng khi các vị hữu trách trong Giáo hội vì muốn mở cửa và duy trì chủng viện mà nhượng bộ thỏa hiệp để cho các chủng sinh của mình bị chính quyền bắt buộc phải học triết học Mác Lênin.
Thật vậy, các chủng sinh trẻ phải lắng nghe người của chính quyền thuyết giảng những điều sai trái và phi lý của cái triết học duy vật vô thần này mà không được nêu ý kiến phản bác, cũng như khi trả bài, làm bài thì phải nói, phải viết theo những điều sai lầm, phi lý đó càng nhiều thì càng "tốt", bằng không thì thế nào cũng bị hạnh kiểm "xấu" trong mắt của chính quyền để rồi sẽ bị cấm không cho thụ phong linh mục về sau, thậm chí còn có thể bị loại trừ khỏi chủng viện. Khi phải học hỏi triết học Mác Lê kiểu đó, thì dù trong bụng có tin nó hay không, có bị nó ảnh hưởng trong nhận thức hay không, thì có một điều chắc chắn các chủng sinh trẻ phải học hỏi đó là làm ngơ, dẹp qua một bên, rồi dần dần có thể đi đến chỗ đánh mất hẳn hai khuynh hướng rất nhân bản sau. Thứ nhất là khuynh hướng tâm lý tự nhiên muốn tự do và khách quan tìm hiểu và lý luận cho ra sự thật, lẽ phải, chứ không chịu sự áp đặt cưỡng bức, và khi tìm được sự thật lẽ phải rồi thì tự nhiên muốn bảo vệ nó. Thứ hai là khuynh hướng tự trọng của bản thân, cảm nhận và đòi hỏi người khác cần phải tôn trọng cái quyền chính đáng của mình trong việc truy tầm, trình bày, phát biểu, và bảo vệ sự thật, lẽ phải. Nếu trong hàng ngũ giáo sĩ của Giáo hội hiện nay và sau này mà phần lớn có rất ít hay thậm chí đánh mất đi hai khuynh hướng nhân bản quan trọng này thì không cần nói nhiều cũng đủ thấy những giáo sĩ đó sẽ gây biết bao tai hại cho chính Giáo hội, nhất là đối với vai trò ngôn sứ chứng nhân cho sự thật.
VNN : Điều thấy rõ là CSVN ngày càng lấn lướt trong việc cướp đoạt tài sản của GHCG tại Việt Nam. Điển hình là trong Tổng Giáo phận Huế, sau những vụ cướp đất của Đan viện Thiên An, của Thánh địa La Vang, cưỡng đoạt cơ sở của Dòng Chúa Cứu Thế v.v..., mới đây, CSVN lại tiếp tục cướp đất của họ đạo Kế Sung và trấn áp giáo dân. Điều thật khó hiểu là hàng Giáo phẩm Việt Nam vẫn tiếp tục im lặng trước dã tâm nầy của chính quyền cộng sản cũng như trước những tiếng kêu cứu thông thiết của chính con cái mình ? Xin Linh Mục cho biết nhận định như thế nào về vấn đề nầy ?
Linh Mục TRẦN XUÂN TÂM: Thú thật, tôi rất dè dặt và rất hạn chế khi nói về những việc làm của Hội đồng Giám mục hay hàng Giáo phẩm Việt Nam. Dưới một chế độ cộng sản thì hàng Giáo phẩm hay Hội đồng Giám mục Công giáo bị tước mất phần lớn điều kiện để có thể thi hành bổn phận tập thể của mình một cách tự do và đầy đủ. Nói rõ hơn, nếu từ ban Thường vụ hay từ một kỳ họp thường niên của Hội đồng Giám mục có những việc đã làm dù không nên làm hay có những việc đáng làm mà vẫn chưa được làm thì cả hai trường hợp đều không thực sự phản ảnh đầy đủ sự đồng thuận tự do của đa số các Giám mục thành viên đâu. Cho nên để tránh hàm hồ, vơ đũa cả nắm, nên nói đến việc đã làm hay không làm của từng cá nhân, một số, hay nhiều Giám mục.
Trong vấn đề chính quyền cộng sản vi phạm hoặc quốc hữu hóa đất đai tài sản của Giáo hội thì không có một phản ứng chung của tất cả các Giám mục, trái lại có nơi thì im lặng, có nơi thì có lên tiếng nhưng không quyết liệt, có nơi thì lên tiếng mạnh hơn. Trước đây, vào khoảng năm 2001 ở Sài gòn có vụ cơ sở của Giáo xứ Bình Phước và chúng ta thấy có một hai văn thư phản đối đến từ Tòa Tổng giám mục Sài Gòn, nhưng sau đó thấy im bặt, không biết vụ việc sau đó được giải quyết thế nào. Cũng ít nhiều trong thời gian đó ở Giáo phận Đà Nẵng có vụ nhà thờ Thạnh Quang, rồi sau đó là vụ đất giáo xứ Thanh Đức, linh mục và giáo dân có phản đối nhưng Giám mục Nguyễn Bình Tĩnh thì im lặng và cuối cùng nhượng bộ. Khoảng giữa năm 2002, ở Giáo phận Quy Nhơn có vụ đất của Giáo xứ Bàu Gốc: giáo dân và linh mục phản đối và bị hành hung, rồi sau đó chúng ta cũng không biết kết quả thế nào. Ở Hà Nội cũng vào năm 2001 khi chính quyền cộng sản vừa bắt đầu khởi công, xây dựng trên miếng đất ở phố Nhà Chung của Tổng giáo phận Hà Nội mà bấy lâu nay vẫn còn trong tình trạng chưa giải quyết thì Hồng y Phạm Đình Tụng đã gửi văn thư phản đối tới hai lần, lần thứ hai còn có thư ủng hộ của các linh mục Hà Nội gửi kèm, nhưng chính quyền vẫn khinh bỉ cứ tiếp tục làm. Sau đó khi đức Hồng y cho công khai hoá sự phản đối của ngài cho khắp các giáo xứ ở trong Tổng Giáo phận, làm dậy lên làn sóng phản đối của giáo dân thì chính quyền mới dừng tay gửi phái đoàn tới thương thuyết. Có lẽ vì đã ăn chia với nhau lỡ rồi nên chính quyền đòi bồi hoàn cách khác, Tòa Giám mục không bằng lòng. Miếng đất trở lại tình trạng cũ tức tiếp tục chờ giải quyết và đương nhiên theo luật lệ của chính chính quyền là không ai được xây dựng thay đổi gì trên đó. Thế nhưng, sau một thời gian ngưng tay thì chính quyền bắt đầu lại việc khởi công. Khi tôi đến Hà Nội vào ngày 7 tháng 1.04, thì chứng kiến tận mắt là chính quyền vừa mới đổ móng xong để chuẩn bị xây bờ thành. Hồng y Tụng đã về hưu, người hiện nay có quyền quyết định là Đức cha Giám quản Ngô Quang Kiệt. Tôi không biết đến nay câu chuyện đã giải quyết thế nào. Vào đầu tháng 12 năm ngoái, ở Giáo phận Phan Thiết, Đức cha Huỳnh Văn Nghi đã công khai lên tiếng phản đối hai vụ vi phạm tài sản của Giáo phận và cũng như Hồng y Tụng đã làm, ngài cho công khai hóa sự phản đối của mình khắp mọi giáo xứ ở trong Giáo phận Phan Thiết và yêu cầu giáo dân hiệp thông cầu nguyện với ngài trước vụ việc. Cũng như những vụ việc trên chúng ta cũng không biết sau đó ra sao. Vi phạm và quốc hữu hóa tài sản Giáo hội được biết đến nhiều nhất là ở Tổng giáo phận Huế nhờ những bản tin thường xuyên gửi ra từ Huế: bắt đầu là vụ đất Đan viện Biển Đức Thiên An vào năm 1999, rồi đất của họ đạo Nguyệt Biều, cơ sở của nhà thờ Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp của Dòng Chúa Cứu Thế, đất của giáo xứ Loan Lý, đất của Trung tâm Thánh Mẫu La Vang, và mới đây là đất của họ đạo Kế Sung. Phản ứng của Tòa Giám mục Huế đối với các vụ này cũng không giống nhau. Cho là tài sản của các Dòng Tòa Thánh, không thuộc thẩm quyền mình, nên Tòa Giám mục Huế không lên tiếng trong hai vụ Thiên An và Dòng Chúa Cứu Thế. Nhưng trong những vụ trực tiếp liên quan đến tài sản của Tổng Giáo phận thì Toà Giám mục phản đối ra mặt, xem ra mạnh nhất là vụ đất La Vang và đất của họ đạo Kế Sung. Tuy nhiên ngay cả trong hai trường hợp vừa nói thì việc phản đối của Tòa Tổng giám mục Huế vẫn chưa có cùng một mức độ công khai và huy động lực lượng toàn giáo phận như Hồng y Tụng và Đức cha Nghi đã làm.
Qua những vụ vừa nhắc qua ở trên có lẽ điều mà chúng ta mong đợi thấy được đó là ở bất kỳ Giáo phận nào trong nước cũng đều có được những phản ứng giống như của Hồng Y Tụng và của Đức cha Nghi đứng trước bất kỳ vụ vi phạm hay quốc hữu hóa tài sản nào trong Giáo phận, dù nhỏ dù lớn. Và chúng ta không chỉ dừng lại ở nội dung của phản ứng của hai vị chủ chăn đó mà còn mong muốn có sự kiên định dứt khoát không lùi bước khi phản ứng như vậy, cũng như có sự công khai hóa cho thế giới bên ngoài về những phản ứng đó. Còn đối với một việc làm chung của cả Hội đồng Giám mục thì chúng ta mong đợi rằng ít nữa cứ mỗi kỳ họp thường niên Hội đồng Giám mục có thể công bố công khai cho cả trong và ngoài nước một văn kiện phản đối chính quyền cộng sản mà trong đó các giám mục liệt kê ra cụ thể và đầy đủ những vụ vi phạm hay quốc hữu hóa tài sản của Giáo hội mà vẫn chưa được giải quyết hay chưa được giải quyết ổn thoả.
VNN : Cảm ơn Linh Mục. Xin Linh Mục câu hỏi cuối cùng: Có nhận định cho rằng điều đáng quan ngại nhất hiện nay không phải là những khó khăn và trở ngại mà CSVN đang gây ra cho GHCGVN, vì những điều nầy cũng sẽ qua đi một khi chế độ tàn bạo nầy không còn nữa, mà chính là chính sách can thiệp rất thâm độc của CSVN vào nội bộ GHCGVN hiện nay, nhằm làm biến chất Giáo hội, để Giáo hội không còn là Giáo hội Công giáo đích thực nữa. Một khi mà men không còn nồng, muối không còn mặn nữa thì cả muối lẫn men đều trở thành vô dụng! Linh Mục có điều gì chia sẻ với những quan tâm, lo lắng nầy không ?
Linh Mục TRẦN XUÂN TÂM: Trong bài Tường trình về việc cộng sản Việt Nam đàn áp đối với Giáo hội Công giáo Việt Nam mà Cha Chân Tín giao cho phái đoàn Mỹ và tôi khi phái đoàn đến thăm Cha ngày 13 tháng 1 năm nay, ngài có viết những dòng mà anh Sơn đã phần nào gián tiếp trích dẫn ở trên. Xin trích dẫn lại cho đầy đủ chúng ta có thể cảm nhận được tâm tình chân thành, thống thiết, và khiến người cảm động của Cha Chân Tín khi viết những dòng chữ ấy. Cha viết: "Điều tôi muốn nói lên trong bài tường trình này không chỉ là những khó khăn hay những điều bất lợi mà chế độ cộng sản đang gây ra cho GHCGVN trong hiện tại. Tất cả những khó khăn hay bất lợi ấy rồi cũng sẽ qua đi khi mà chế độ cộng sản này qua đi. Nhưng điều tôi muốn nói đến là những tai hại do chế độ cộng sản này gây ra cho Giáo hội trong hiện tại sẽ còn tồn tại và kéo dài rất nhiều năm sau khi chế độ phi nhân này tan biến đi. Một trong những tai hại ấy là chính sách tôn giáo của chế độ đang tha hóa và làm biến chất Giáo hội Công giáo tại Việt Nam cũng như các Giáo hội của các tôn giáo khác trên đất nước này... Điều đáng sợ nhất mà chế độ này đang làm cho Giáo hội yêu quý của tôi là nó biến đổi bản chất của Giáo hội... Một Giáo hội đáng lẽ phải biết phản ứng khi chính mình bị tàn phá, khi đồng bào mình bị đối xử bất công, thì lại phó mặc chế độ muốn làm gì mình thì làm, sẵn sàng câm lặng trước mọi bất công và tồi tệ nó gây ra! Một Giáo hội đáng lẽ phải là men nồng, mà muối mặn để có thể biến cải xã hội con người nên tốt đẹp hơn, thì lại mất đi tính nồng của men, tính mặn của muối. Men mà bị biến chất, hay muối mà bị lạt thì còn ích lợi gì nữa ?"
Tôi chia sẻ trong căn bản nỗi buồn, nỗi quan tâm lo lắng này của Cha Chân Tín. Đây là một lo ngại rất có thật chứ không phải viễn vông. Một thứ biến chất đang xảy ra và có thể ngày càng tệ hơn đối với bổn phận ngôn sứ của con cái Giáo Hội tại Việt Nam. Đúng lý ra vì đây thuộc về vấn đề bản chất và căn tính của Giáo hội cho nên con cái Giáo Hội phải đặt mối lo ngại này lên hàng đầu, trên tất cả những lo âu về sinh hoạt và tổ chức mục vụ hiện nay. Thật ra tôi tin rằng không riêng gì Cha Nguyễn Văn Lý, Cha Chân Tín, Cha Phan Văn Lợi, Cha Nguyễn Hữu Giải, anh Nguyễn Chính Kết, v.v... có một số giám mục, linh mục, giáo dân ở trong nước cũng bắt đầu thấy được vấn đề, thấy được đâu là những biến chất mà chính quyền cộng sản đã và đang gây ra trong Giáo hội. Ví dụ như lúc tôi ghé thăm Hồng Y Phạm Đình Tụng ngày 8 tháng 1 năm nay tại Tòa Giám mục Hà Nội, thì cũng được ngài tâm sự tương tự.
Tuy nhiên trước khi kết thúc tôi xin lưu ý rằng cần phải hiểu đúng ý Cha Chân Tín, khi nói "Giáo hội biến chất", hay sự "biến chất của Giáo hội", thì ngài chính xác muốn nói đến sự biến chất "ở trong" Giáo Hội, ở nơi nếp nghĩ, thái độ, và việc làm của nhiều con cái Giáo Hội. Chứ Giáo Hội xét như là một thực tại toàn thể, dù hiện diện ở Việt Nam hay ở nước này, nước nọ, không thể biến chất được, dĩ nhiên không phải do sức mạnh gì của con người, nhưng nhờ được quyền năng của Chúa Thánh Thần duy trì, bảo đảm, và tăng triển. Chỉ có những việc làm phù hợp với Tin Mừng mới cho chúng ta thấy được khuôn mặt thật sự của một Giáo Hội như thế. Những gì ngược với Tin Mừng hay thoả hiệp Tin Mừng, dù có được đa số con cái của Giáo Hội làm, kể cả những người mà chức năng và ơn gọi mang tính đại diện Giáo Hội hơn ai khác, thì chẳng qua cũng chỉ là đến từ sự yếu hèn tội lỗi của họ thôi, chứ không đến từ Giáo Hội, nhưng bôi bẩn, che đậy khuôn mặt thật sự của Giáo hội.
Lưu ý như thế cũng là để tôi tự nhắc nhở mình là bên cạnh những yếu hèn tội lỗi của nhiều con cái, Giáo Hội trên hết còn có sức mạnh của Thiên Chúa, mà quả thật Giáo Hội là của Chúa Giêsu chứ không phải của ai hết. Cho nên tôi luôn luôn có hy vọng, hy vọng đây không phải là mong chờ cái gì tốt đẹp hơn sẽ xảy đến dầu mình không biết chắc chắn. Nhưng hy vọng đây là đức Cậy, là mong đợi điều mà người Công giáo, dựa vào quyền năng và lời hứa của chính Thiên Chúa, xác tín là chắc chắn sẽ đến. Điều mong đợi đó là sự chiến thắng của ơn sủng trên tội lỗi, sức mạnh của Thiên Chúa trên sự yếu hèn của con người. Vì óc vô thần kiêu căng của nó mà chính quyền cộng sản sai lầm lớn khi tưởng rằng với đủ thứ lừa dối và bạo lực thế nào cuối cùng nó cũng nô lệ hoá được con cái Giáo Hội Công giáo. Nó không ngờ rằng chính những yếu tố trong Giáo Hội mà nó không thể điều khiển được, tức những yếu tố siêu nhiên, thần linh, mới là những yếu tố có tiếng nói quyết định sau cùng đối với bản chất và vận mệnh của Giáo Hội.
Võ Triều Sơn : Đại diện cho thông tấn VNN, con xin cảm ơn Linh Mục đã dành nhiều thì giờ quý báu để chia sẻ những tâm tình rất chân thành cùng quý độc giả của VNN. Xin kính chào tạm biệt Linh Mục và kính chúc Linh Mục luôn dồi dào sức khoẻ và tràn đầy hồng ân Thiên Chúa.