Vụ Án Công Giáo

Đấu tranh cho Tự do tôn giáo tại Giáo phận Huế
Bản tin ngày 27-05-2003

I- Linh địa La Vang, đất bằng dậy sóng !

Ngày 07-5-03: các chức sắc Phật giáo và Công giáo thuộc tỉnh Quảng Trị đã được chính quyền tỉnh mời họp mặt, gọi là tọa đàm về những "thành tựu mọi mặt" của tỉnh nhà và đặc biệt về "tin vui mới" cho các giáo hội là Nghị quyết đầu năm 2003 của đảng Cộng sản về công tác tôn giáo. Trong cuộc tọa đàm, đã có nhiều tiếng nói cất lên. Sau đây là những lời phát biểu chính, chúng tôi xin ghi tóm lược.

1- Thượng Tọa Thích Hải Tạng, thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất:

(Chú thích: Thượng tọa Hải Tạng, nhà tranh đấu nổi tiếng đất Thừa Thiên - Quảng Trị, từng bị ngồi tù CS, cả chục năm rồi không hề được mời tọa đàm, nay mới là lần đầu tiên. Về Làng văn hóa, trên Tây nguyên thậm chí có mô hình "Làng Văn hóa - Không tôn giáo").

2- Cha Emmanuel Nguyễn Vinh Gioang, hạt trưởng hạt Quảng Trị:

(Chú thích: Sở dĩ 4 linh mục không thể tới nhiệm sở là vì chính quyền Quảng Trị cột việc này với việc giải quyết Hội đồng Quản trị La Vang mà họ cho là bất hợp pháp. Thế nhưng Tòa tổng giám mục luôn khẳng định: Hội đồng Quản trị La Vang là chuyện nội bộ. [Xin xem lại Bản tin 19-3-03]. Mới đây, ông Triêm, công an tôn giáo tỉnh, tỏ ra bực tức khi nghe tân linh mục Trần Đức Diễn, đang giúp mục vụ giáo xứ Trí Bưu và là một trong số 4 vị nói trên, lặp lại ý kiến của Toà Tổng Giám mục. Ông ta hăm dọa: "Đừng hòng ra Quảng Trị!". Ngày 16-5-03, lúc tới thăm linh mục Phan Miên, quản xứ Thuận Nhơn, ông Triêm cũng tỏ ra hằn học với lập trường của Đức Tổng giám mục Huế, gọi ngài bằng "ông Thể" chứ không còn gọi "Đức giám mục" như trước đây. Kiểu cách hành xử như thế của cán bộ tôn giáo tỉnh làm sao dẫn tới đoàn kết tôn giáo, ổn định xã hội nổi ? Phải chăng ông Triêm là một cán bộ năng nổ đang thực hiện chính sách o ép Công giáo của chính quyền Quảng Trị ?)

3- Cha Giuse Dương Đức Toại, quản nhiệm trung tâm Thánh Mẫu La Vang:

Nhà nước cho biết Quảng Trị đang vươn lên, đặc biệt về điện, đường, trường, trạm. Xin chúc mầng thành quả này (Chú thích của PV: thành quả sau 28 năm !). Riêng ngành du lịch đang chú tâm phát triển các môi trường thiên nhiên. Điều đó rất tốt.

La Vang là một môi trường thiên nhiên đồng thời là địa điểm hành hương quan trọng của Công giáo. Nhưng hiện nay nhà nước đang xâm phạm môi trường này. Đồi Thánh giá của chúng tôi ở La Vang đang bị cày ủi để lấy đất bán và làm đường xuyên qua. Đây là một hành động không thể chấp nhận được !

(Chú thích: Diễn tiến vụ việc nhà nước cày ủi đồi Thánh giá ở La Vang :

  • Tháng 11-2002 : Nhà nước gửi văn thư yêu cầu lập tờ trình đất đai của La Vang.
  • 18-12-2002 : Linh mục Dương Đức Toại gửi cho nhà nước tờ trình về đất đai Thánh địa La Vang đồng thời đề nghị kiểm định và xác nhận. (Xin xem tài liệu bên dưới).
  • 12-3-2003 : Sở địa chính tỉnh Quảng Trị, phòng nông nghiệp huyện Hải Lăng cùng uỷ ban nhân dân xã Hải Phú tiến hành xác định hiện trạng sử dụng đất La Vang và xác nhận số đất đai khác thuộc tổng thể Thánh địa sẽ được tái tạo về lâu về dài (x. Tài liệu dưới).
  • 21-3-2003 : Sở địa chính tỉnh gởi văn thư yêu cầu linh mục quản nhiệm làm đơn xin những phần đất chưa sử dụng. Cha Toại quyết không làm đơn xin, lập luận rằng những phần đất ấy đã và đang là sở hữu của Thánh địa.
  • 06-4-2003 : UBND xã Hải Phú cùng với Đội 6 Cầu đường, Long Hưng, Hải Phú làm bản hợp đồng khai thác đất mở đường lâm nghiệp. Trong bản hợp đồng này, một phần đất của Thánh địa La Vang, trong đó có đồi Thánh giá, bị xâm phạm. (x. Tài liệu dưới). Nên nhớ ông Văn Viết Long, chủ tịch UBND xã, là người đã được thông báo ít nhất hai lần về phạm vi đất đai của Thánh địa. Thế nhưng ông ta vẫn ngang nhiên làm hợp đồng với đội cầu đường để chia chác quyền lợi trên tài sản của người khác.
  • Đầu tháng 5-2003 : Đoàn xe cày ủi xúc đất tiến chiếm đồi Thánh giá La Vang (vốn nằm ở mặt hậu Linh địa). Chúng đào xới ngang dọc, thậm chí lấn tới quảng trường Thánh Tâm. Linh mục quản nhiệm liền thành lập một tiểu đội quyết tử (gồm nhiều thanh niên giáo xứ) để bảo vệ đất Mẹ. Anh em đã thề hy sinh mạng sống, sẵn sàng chịu đổ máu để bảo toàn Linh địa. Hiện nay họ ngày đêm thay phiên nhau canh phòng, hễ thấy đoàn xe cày ủi của bọn cướp đất tiến vào là nằm lăn trước mũi xe, dùng thân người chặn bánh xe lại. Linh mục quản nhiệm nuôi dưỡng anh em trong thời gian bảo vệ này và sẽ lo an táng lẫn chu cấp gia đình nếu anh em tử nạn. Hiện giờ lũ linh địa tặc đang khựng lại để bày mưu tính kế khác. Được biết, tháng 9-2002, các anh em này cũng đã một lần dũng cảm ngăn chận một chiếc xe tính ủi đất đồi Thánh giá.
    Phải chăng đồi Thánh giá La vang rồi đây sẽ có những thánh giá thực và sẽ trở thành nổi tiếng như Đồi thánh giá bên Lithuania thời Cộng sản Đông Âu ?
    Khi được thông báo toàn bộ sự việc trong ngày tĩnh tâm tháng (06-5-2003), toàn thể anh em linh mục Huế đã rất xúc động trước thái độ cương quyết của linh mục quản nhiệm và anh chị em giáo dân La Vang. Mọi giáo xứ trong tổng giáo phận Huế hiện nay đều sẵn sàng kéo về La Vang để quyết giữ đất Mẹ).

    4- Cán bộ tỉnh Quảng Trị (chỉ thị):

    Các vị lãnh đạo tôn giáo tỉnh ta hôm nay đã được hân hạnh hiểu rõ quan điểm của đảng ta trong Nghị quyết mới về công tác tôn giáo. Các vị thành thử có trách nhiệm phổ biến cho cơ sở của mình (nghĩa là giáo xứ và giáo dân của mình) được biết để chấp hành !?!

    (Chú thích: Trong buổi tọa đàm này, có đủ cán bộ các ban ngành cấp tỉnh, đặc biệt có ông Chiến, cán bộ tôn giáo; ông Dung, công an tôn giáo; ông Chính, phó chủ tịch UBND tỉnh. Trong tinh thần "học tập Nghị quyết", hiện nay một số linh mục trong Giáo phận đã phổ biến cho giáo dân bản "Nhận định về Nghị quyết của Trung ương đảng về công tác tôn giáo". Cũng xin nhắc lại một chuyện cũ: Trong lần họp để góp ý cho Dự thảo Pháp lệnh tôn giáo đầu năm 2001, cha hạt trưởng Nguyễn Vinh Gioang, thay vì góp ý, đã đọc lên Sắc lệnh về Tự do tôn giáo của Công đồng Vatican II cho mọi người nghe !!!).

    Phóng viên tường trình từ Quảng Trị

    (Vì lý do kỹ thuật, chúng tôi xin được miễn quét hình (scan) toàn bộ tài liệu mà chỉ quét hình con dấu và chữ ký thôi. Phần chính tài liệu [4] thì sao lại bằng cách đánh chữ trên vi tính).

    Tài liệu 1

    CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
    Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
    -------0-------

    TỜ TRÌNH VỀ ĐẤT ĐAI CỦA THÁNH ĐỊA LA VANG

    Kính gởi

    Ủy Ban Nhân Dân Tỉnh Quảng Trị.
    Ủy Ban Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam Tỉnh Quảng Trị.
    Ban Tôn Giáo Tỉnh Quảng Trị.
    Công An Tỉnh Quảng Trị.
    Ủy Ban Nhân Dân Huyện Hải Lăng.
    Ủy Ban Nhân Dân Xã Hải Phú.

    Tôi, linh mục Dương Đức Toại, Quản nhiệm Trung Tâm Thánh Mẫu La Vang, kính trình quý Ủy ban việc sau đây:

    Thánh Địa La Vang được thành hình từ năm 1798; từ đó, đã trở thành nơi đón nhận khách hành hương từ khắp nơi đến kính viếng và cầu khấn.

    Căn cứ vào các giấy tờ trích lục hợp pháp, tổng số diện tích đất đai của Thánh Địa La Vang được ghi nhận là 23,5580 ha (tức là 46 mẫu 7 sào 54 thước 25 tấc) (xin xem hồ sơ đất đai đính kèm).

    Số đất đai trên đây là nhu cầu tối thiết để đáp ứng các nhu cầu hành hương, Đại Hội Hành Hương và các nhu cầu tôn tạo khác của Thánh Địa La Vang.

    Vậy chúng tôi kính đề nghị chính quyền cho kiểm định và xác nhận số đất đai nói trên của Thánh Địa La Vang như chúng tôi kính trình bày.

    Chúng tôi xin chân thành cám ơn

    La Vang, ngày 18 tháng 12 năm 2002
    (ký tên và đóng dấu)
    Linh mục Dương Đức Toại

    Nơi nhận:

    - Như trên.
    - Hội Đồng Giám Mục Việt Nam.
    - Tòa Tổng Giám Mục Huế.

    Tài liệu 2

    TƯ LIỆU VỀ RUỘNG ĐẤT CỦA THÁNH ĐỊA LA VANG

    Những ruộng đất có đầy đủ giấy tờ hợp pháp

    Stt Chủ sở hữu đất đai Diện tích Thời gian Ghi chú
    1 Nhân dân thôn La Vang 5 hecta (5 mẫu) 15-08-1957 Nhượng
    2 Bà Nguyễn thị Kiều, Nguyễn thị Hạt,
    Nguyễn Thị Liêu, Nguyễn Thị Thĩu
    1 mẫu, 6 sào, 6 thước, 2 tấc 17-09-1958 Bán
    3 Ông Trương Minh 1 sào, 12 thước 18-11-1958 Bán
    4 Ông Lê Văn Phước 1 sào, 1 thước 25-11-1958 Bán
    5 Thôn Phú Long, Hải Phú 4 mẫu (20.427m2) 01-04-1959 Nhượng
    6 Bốn tộc họ Lê 3 sào 18-06-1961 Nhượng
    7 Thân hào, nhân dân thôn La Vang 13 mẫu, 1 sào, 7 thước, 3 tấc 01-07-1961 Dâng
    8 Ông Lê Sanh 1 sào, 4 thước, 9 tấc 11-07-1961 Bán
    9 Ông Lê Văn Giao 2 sào, 5 thước (1189m2) 14-07-1961 Bán
    10 Anh em ông Lê Thiện Ngọc 1 mẫu, 4 sào, 4th, 5 tấc 22-07-1961 Bán
    11 Bà Lê Thị Sinh, con Lê Viết Phước 12 sào, 11 thước, 6 tấc 21-08-1961 Bán
    12 Bà Lê Thị Thí, con Lê Thiện Tống 4 sào, 1 thước 18-10-1961 Bán
    13 Bà Lê Thị Linh 1 mẫu (5000m2) 20-10-1961 Bán
    14 Ông Lê Xuân Long 15 mẫu 08-01-1962 Bán
    15 Ông Lê Văn Viên 5 sào 08-01-1962 Bán
    16 Ông Nguyễn Thanh 1 sào, 3 thước (649m2) 12-10-1963 Bán
    17 Ông Nguyễn Hữu Bài 2 mẫu 10-02-1964 Bán
    18 Ông Lê Trường 6 sào 12-09-1964 Bán
    TỔNG CỘNG 46 mẫu, 7 sào, 54 thước, 25 tấc
    (tức là 23,5580 ha)

    Tài liệu 3

    (được viết tay trên 2 trang A4)

    CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
    Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
    -------0-------

    BIÊN BẢN

    V/v xác minh đất Nhà thờ La Vang - thuộc xã Hải Phú - huyện Hải Lăng hiện tại đang sử dụng

    Hôm nay ngày 12 tháng 3 năm 1003

    Chúng tôi gồm :

    I- Sở Địa chính Quảng Trị.

    1. Ông Võ Trực Linh - Giám đốc Sở.
    2. Ông Phạm Quang Đạt - Cán bộ Thanh tra Sở.

    II- Phòng Nông nghiệp Địa chính huyện Hải Lăng.

    1. Ông Lê Văn Anh - Cán bộ phòng NN-ĐC huyện.

    III- Xã Hải Phú.

    1. Ông Văn Viết Long - Chủ tịch UBND xã.

    IV- Nhà Thờ La Vang.

    1. Ông Dương Đức Toại - Linh mục Quản nhiệm.

    Đã tiến hành xác định hiện trạng sử dụng đất của nhà thờ dựa trên bản đồ 299 được chỉnh lý năm 2000 như sau :

    + Tờ bản đồ số 08 - xã Hải Phú gồm các thửa :

    + Tờ bản đồ số 06 - xã Hải Phú gồm các thửa :

    Biên bản kết thúc lúc 16 giờ cùng ngày.

    Các bên nhất trí ký tên
    SỞ ĐỊA CHÍNH QUẢNG TRỊ
    (ký tên ông Võ Trực Linh)

    UBND XÃ HẢI PHÚ
    Chủ tịch
    (ký tên)
    Văn Viết Long
    PHÒNG NN-ĐC HẢI LĂNG
    CB thuộc phòng (ký tên)
    Lê Văn Anh

    NHÀ THỜ LA VANG
    Linh mục Quản nhiệm
    (ký tên)
    Dương Đức Toại

    Linh mục Toại có ý kiến thêm: Ngoài những cơ sở đất đang sử dụng như trên, còn một số đất đai cơ sở khác thuộc tổng thể của Thánh địa Đức Mẹ La Vang (có Hồ sơ chi tiết trình ngày 18-12-2002). Theo chương trình sẽ được tái tạo về lâu về dài.

    Xác nhận
    (ký tên ông Võ Trực Linh)

    Tài liệu 4

    CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
    Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
    -------0-------

    BẢN HỢP ĐỒNG

    V/v Khai thác đất mở đường lâm nghiệp

    - Căn cứ pháp lệnh hợp đồng kinh tế ngày 20 tháng 10 năm 1989.
    - Căn cứ nghị định số 17/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng về chế độ hợp đồng kinh tế.
    - Căn cứ chức năng, nhiệm vụ và khả năng hai bên.

    Hôm nay, ngày 06 tháng 4 năm 2003. Tại văn phòng UBND xã Hải Phú

    CHÚNG TÔI GỒM CÓ :

    I. THÀNH PHẦN:

    1. Đại diện bên A : (UBND xã Hải Phú).

    - Ông Văn Viết Long. Chức vụ : Chủ tịch.
    - Ông Văn Đình Tại. Chức vụ : Kế toán.
    - Ông Văn Ngọc Thọ. Chức vụ : Địa chính.

    2. Đại diện bên B :

    - Ông Trần Thú. Chức vụ :..........
    - Địa chỉ : Đội 6, Long Hưng, Hải Phú.
    - Điện thoại : 826.605.
    - Số tài khoản : ..........

    Hai bên cùng thống nhất ký kết hợp đồng kinh tế với các điều khoản sau :

    II. NỘI DUNG

    Điều 1 : Nội dung công việc:
    - Bên A giao cho bên B khai thác đất để mở đường lâm nghiệp, tuyến đường từ cầu đúc đi vào rừng thông HTX Phú Hưng.

    Điều 2 : Khối lượng và giá cả:
    - Khối lượng : đo theo thực tế.
    - Đơn giá đất : 3500đ/m3 (ba nghìn năm trăm đồng trên một mét khối đo thực tế).

    Điều 3 : Phương thức thanh toán:
    - Thanh toán bằng tiền mặt sau khi nghiệm thu.

    Điều 4 : Thời gian thực hiện hợp đồng:
    - Từ ngày 07-4-2003 đến 30-9-2003.

    Điều 5 : Quy cách khai thác:
    - Khai thác để mở đường lâm nghiệp, tạo đường bằng phẳng rộng 8m, có hai rãnh thoát nước hai bên. Mép đất khai thác cách rìa rừng thông 3m (ba mét), điểm 0 tại nửa dốc cầu đúc.

    + Trách nhiệm bên A:
    - Bàn giao cụ thể thực tế tuyến đường để bên B thi công.

    + Trách nhiệm bên B:
    - Thực hiện theo nội dung hợp đồng và khai thác tránh mùa lúa trổ, gặt lúa, ngày trời mưa. Trong quá trình vận chuyển đất phải có trách nhiệm sửa chữa lại mặt đường do quá trình vận chuyển làm hư hỏng.

    Điều 6 : Điều khoản chung:
    Hai bên cam kết thực hiện đúng các điều khoản nêu trên. Nếu có điều gì vướng mắc thì hai bên phải thông báo cho nhau để giải quyết.
    Nếu bên nào vi phạm hợp đồng thì sẽ chịu hoàn toàn trách nhiệm.
    Hợp đồng này được lập thành 04 bản và có giá trị như nhau. Bên A giữ 3 bản, bên B 1 bản và có hiệu lực kể từ ngày ký./.

    ĐẠI DIỆN BÊN B
    (ký tên)
    TRẦN THÚ
    ĐẠI DIỆN BÊN A
    (ký tên và đóng dấu)
    VĂN VIẾT LONG

    II- Thiên An đan sĩ, sống chết không yên !

    Đan viện Thiên An một lần nữa lại lên tiếng kêu gào trước những hành vi bất công của bạo quyền Cộng sản. Chúng tôi xin gởi đến Quý vị 2 tài liệu: một thông báo của cơ quan bạo quyền Thừa Thiên Huế, một kháng thư của chính đan viện Thiên An.

    Tài liệu 1

    SỞ GIAO THÔNG VẬN TẢI T.T. HUẾ
    Ban QLDA Các CT Giao Thông
    -------------
    Số : 227 / QLDA

    CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
    Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
    ------------------
    Huế, ngày 12 tháng 5 năm 2003

    THÔNG BÁO
    CỦA BAN QLDA CÁC CTGT T.T. HUẾ

    (V/v di dời mồ mả tại đường vào Trung tâm vui chơi giải trí Hồ Thủy Tiên)

    Kính gửi

    - GIÁO XỨ THIÊN AN
    - ĐAN VIỆN THIÊN AN

    - Căn cứ quyết định số 717/QĐ-UB ngày 18/3/2003 của UBND tỉnh T.T. Huế về việc giao đất cho Ban QLDA các CTGT để xây dựng đường vào khu trung tâm vui chơi giải trí Hồ Thủy Tiên;

    - Căn cứ quyết định số 603/QĐ-UB ngày 05/3/2003 về việc phê duyệt giá trị đền bù thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất để xây dựng đường vào Trung tâm vui chơi giải trí Hồ Thủy Tiên tại xã Thủy Bằng, huyện Hương Thủy;

    Ban QLDA các CTGT Thừa Thiên Huế xin thông báo:

    Vị trí đất mới để tái chôn cất mồ mả của Giáo xứ Thiên An - Đan viện Thiên An mà người đại diện đứng kê khai Hồ Văn Trung do giải tỏa mặt bằng để xây dựng đường vào Trung tâm vui chơi giải trí Hồ Thủy Tiên đã được Ủy ban nhân dân tỉnh xem xét, quyết định tại nghĩa trang thành phố Huế thuộc xã Thủy Phương, vì vậy:

    1. Yêu cầu Giáo xứ Thiên An - Đan viện Thiên An (người đại diện Hồ Văn Trung) đến tại trụ sở Ban QLDA các CTGT (10 Phan Bội Châu) để làm thủ tục nhận tiền đền bù di dời mồ mả.
    2. Thời hạn di dời đến hết ngày 30/5/2003.

    Sau 30/5/2003 nếu Giáo xứ Thiên An - Đan viện Thiên An (Hồ Văn Trung) không đến nhận tiền đền bù, không tự giác di dời mồ mả giao trả mặt bằng cho công trình xây dựng, Ban QLDA các CTGT Thừa Thiên Huế sẽ tổ chức cất bốc số mồ mả này về vị trí đã được quy định (nghĩa trang thành phố Huế thuộc xã Thủy Phương) đồng thời Ban QLDA các CTGT không chịu trách nhiệm về các khiếu nại thắc mắc liên quan đến số mồ mả này.

    BAN QLDA CÁC CTGT T.T. HUẾ
    Giám Đốc
    (ký tên và đóng dấu)
    Nguyễn Bá Bình

    Nơi nhận

    - Như trên
    - UBND tỉnh T.T. Huế (để báo cáo)
    - Ông Nguyễn Xuân Lý - PCTUBND tỉnh (để b/c)
    - UBND huyện Hương Thủy (để b/c)
    - UBND xã Thủy Bằng
    - Lưu VT

    Tài liệu 2

    ĐAN VIỆN THIÊN AN
    Thủy Bằng, Hương Thủy, TT Huế
    Văn Thư số 25/VT-VPTA

    CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
    Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
     

    Thiên An, ngày 25 tháng 5 năm 2003

    KHÁNG THƯ

    Kính gửi :

    ÔNG BÍ THƯ TỈNH ỦY TỈNH TT-HUẾ
    ÔNG CHỦ TỊCH UBND TỈNH TT-HUẾ

    Tôi là linh mục Huỳnh Quang Sanh, Bề trên, đại diện tập thể đan sĩ đan viện Thiên An, sau khi nhận được thông báo số 227/QLDA ngày 12-5-03 của Ban QLDA các CTGT TT-Huế gửi đan viện Thiên An chúng tôi - trong đó trưng dẫn các quyết định và sự chỉ đạo của UBND tỉnh TT-Huế- xin có một vài ý kiến gửi đến Quí vị như sau :

    Kính thưa Quí vị,

    Lập trường nhất quán trước sau của chúng tôi trong các văn thư và kháng thư đã gửi Quí vị trong UBND Tỉnh, và by giờ chúng tôi xin lặp lại luôn là: Chúng tôi chỉ đồng ý để CTDL Cố Đô làm khu vui chơi giải trí trên đất chúng tôi sau khi UBND Tỉnh đã giải quyết thỏa đáng đất đai cho đan viện Thiên An. Lập trường đó chỉ có mục đích duy nhất là bảo vệ môi sinh và điều kiện sống tối thiểu cho đời sống đan tu của các đan sĩ đan viện Thiên An chúng tôi đã hiện diện tại đây từ 1940. Chúng tôi thiết nghĩ: quyền được sống và quyền tự do tôn giáo đó phải được Quí vị là những người nắm công quyền lưu tâm. Đằng này, bất chấp pháp luật về đất đai tôn giáo, Quí vị đã cưỡng đoạt đất hồ của chúng tôi để xây dựng khu vui chơi giải trí.

    Vì thế, các Đan sĩ chúng tôi phải nại vào lẽ phải và các quyền con người mà ai ai cũng thừa nhận, yêu cầu Quí vị lưu tâm giải quyết ổn thỏa đất đai cho đan viện Thiên An chúng tôi. Phần chúng tôi, các Đan sĩ Thiên An, kiên quyết bảo vệ đất đai của mình theo pháp luật, và chỉ di dời 32 ngôi mộ đó về nghĩa địa của chúng tôi sau khi Quí vị đã giải quyết ổn thỏa đất đai cho các đan sĩ chúng tôi.

    Trên đây là vài ý kiến của các đan sĩ Thiên An mà tôi đại diện nêu lên, mong Quí vị lưu tâm giải quyết thấu đáo, đừng buộc chúng tôi phải có những hành động chính đáng để bảo vệ quyền sống của chúng tôi nữa.

    Trân trọng kính chào Quí vị.

    Bề trên đan viện Thiên An
    (ký tên và đóng dấu)
    Đan phụ Têphanô Huỳnh Quang Sanh

    Nơi gửi:

    - Như trên
    - Ông Nguyễn Xuân Lý PCT UBND Tỉnh
    - Công An, Ban Tôn Giáo, MTTQ tỉnh TT-H.
    - UBND, Công An huyện Hưông Thủy
    - UBND, MTTQ xã Thủy Bằng.
    - Đan phụ Chủ tịch Tu hội Subiaco để kính trình
    - Đức Tổng Giám mục - Giáo phận Huế để kính trình
    - Các linh mục và các dòng tu Gp Huế, để hiệp thông

    III- Giáo xứ An Truyền, dân Chúa tố cộng !

    Ngày 17-5 mới rồi là kỷ niệm hai năm cha Lý bị hai tiểu đoàn công an vây bắt đem đi sau khi đã hành hạ thô bạo giáo dân An Truyền.

    7 giờ sáng hôm đó, hơn 100 giáo dân An Truyền, phần lớn là phụ nữ và trẻ em, tụ họp tại sân nhà thờ rồi kéo nhau ra trụ sở UBND xã Phú An. Họ vừa đi vừa la to: "Thả Cha ta ra! Thả Cha ta ra! Đã hai năm rồi !".

    Nhân viên ủy ban và công an xã tức tốc chạy đón đường và chặn giáo dân lại trước khi họ đến được trước trụ sở UBND. Hai bên lời qua tiếng lại và xô đẩy nhau. Nhưng rồi giáo dân cũng tới được trước trụ sở xã. Họ tiếp tục hô to: "Cha ta mô rồi ? Cha ta mô rồi ? Trả đây mau !". Một tên công an lên tiếng dọa nạt: "Tụi bây có chịu giải tán không ? Không thì tụi tao đánh đó !" Giáo dân trả lời: "Công an đánh dân hả ? Chính quyền đánh dân hả ? Đồ hèn ! Có giỏi thì xông vào đây!". Một tay chính quyền bèn đấu dịu: "Chuyện ông Lý, trên đã giải quyết rồi. Dưới không làm chi được !". "Trên dưới chi, các người cũng chỉ là một lũ đàn áp nhân dân thôi. Chúng tôi vẫn cứ đòi mãi. Chúng tôi sẽ còn đòi mãi ! Đá đảo chính quyền đàn áp !" Cuộc biểu tình kéo dài độ nửa giờ. Sau đó mọi người giải tán.

    Chiều cùng ngày, có một việt kiều, quê nội An Truyền, hiện ở Anh quốc, trở về thăm làng cũ, đem theo một ông bạn người người Anh. Cả hai vừa vào tới cổng nhà, thân nhân chưa kịp ra đón, thì công an xã đã đuổi theo chặn lại, bắt ra trụ sở xã hạch hỏi.

    Được báo động, rất nhiều giáo dân kéo nhau đến xã, hô to: "Người ta lâu ngày về thăm quê, có vi phạm chi mô mà ngăn chận? Răng mà tàn ác rứa? Pháp luật chi mà lạ rứa ?" Họ càng lúc càng gào lớn, đang khi hai người khách, nhất là ông Tây, thì hết sức hoảng hốt trước thái độ "hiếu khách" của Cộng sản. Một giáo dân lên tiếng: "Cho anh việt kiều và ông Tây thấy được bọn đầu trâu mặt ngựa, hàng tôm hàng cá này". Quá ê mặt, chính quyền và công an xã Phú An cuối cùng đành thả hai người khách, để họ lên Huế. Riêng anh việt kiều, do quá khiếp hãi, không dám về lại để thăm thân nhân.

    Trong thời gian qua, rất nhiều người, trong đó có Việt kiều hoặc ngoại kiều, về An Truyền viếng thăm, đều bị chặn lại tại trụ sở ủy ban xã (vốn nằm ở đầu làng) !

    Phóng viên tường trình từ Huế

    IV- Chiên bé Quảng Biên đòi hỏi công lý !

    BA NGƯỜI CHÁU CHA LÝ CÓ TỘI GÌ ?

    Kính gửi:

    - Viện Kiểm Sát Nhân Dân Tối Cao,
    - Viện Kiểm Sát Nhân Dân TP. Hồ Chí Minh,
    - Tòa Án Nhân Dân TP. Hồ Chí Minh,
    - Hội Đồng Giám mục Việt Nam,
    - Quý thân hữu trong và ngoài nước.

    Lại thêm một vụ án nữa của những người tranh đấu cho nhân quyền, dân chủ, và tự do được đem ra xử. Đó là vụ xử án ba người cháu của Cha Lý - Nguyễn Thị Hoa, Nguyễn Trực Cường, Nguyễn Vũ Việt - được chính quyền Việt Nam thông báo sẽ được đem ra xét xử ngày 30-5-2003.

    Với tư cách là một người dân trong một nước mà chính quyền tự hào là người dân có đầy đủ quyền tự do ngôn luận, tự do phát biểu ý kiến, tôi xin sử dụng quyền ấy để phát biểu cảm nghĩ và ý kiến của tôi về vụ án này. Đó cũng là điều mà lương tâm đòi buộc tôi phải làm, để góp phần làm vụ án này được xét xử một cách khách quan, phù hợp với những đòi hỏi của công lý, và để giúp cho việc xử án được mọi người «tâm phục khẩu phục» hơn.

    Tôi biết việc phát biểu này của tôi sẽ chẳng đem lại bao nhiêu kết quả, mà có thể ít nhiều gây bất lợi cho tôi, vì tôi chỉ là một người dân tầm thường, thấp cổ bé miệng. Tôi nghĩ phải chi những người có uy tín và quyền năng hơn tôi - đặc biệt những người có thẩm quyền trong Giáo Hội Việt Nam (vì 3 em tranh đấu cho tự do tôn giáo của Giáo Hội Việt Nam) - mà lên tiếng thì ắt sự việc sẽ tốt đẹp và hữu hiệu hơn biết bao! Nhưng dù biết là không hữu hiệu, lương tâm của tôi vẫn đòi buộc tôi phải làm một cái gì đấy, dù rất nhỏ nhoi, để góp phần làm cho công lý được sáng tỏ, và sự công bằng được trả lại cho ba em.

    ***

    Trước đây, vào tháng 10-2002, Viện Kiểm Sát Nhân Dân Tối Cao đã công bố một bản cáo trạng nói lên tội trạng của ba em. Ba em bị Viện Kiểm Sát Nhân Dân Tối Cao kết tội làm gián điệp. Riêng tôi, tôi không thể ngờ được những việc làm của ba em mà bản cáo trạng nêu ra lại có thể bị kết án là vi phạm luật pháp, huống gì là kết án phạm tội gián điệp. Tôi thiết tưởng những việc làm ấy đều là những việc mà một người dân trong một nước tôn trọng tự do và nhân quyền đều có quyền làm mà không thể bị kết án một tội danh nào.

    Trước hết, nếu Việt Nam là một nước thật sự có tự do và dân chủ, thì bất cứ một người dân nào cũng có quyền lên tiếng khi họ thấy rằng chính quyền đang vi phạm nhân quyền, hay vi phạm một điều luật nào đó trong hiến pháp, luật pháp, hay công ước quốc tế, miễn là họ có những chứng cớ hợp lý. Chính quyền có bổn phận phải bảo vệ quyền lên tiếng ấy, cho dù điều ấy có bất lợi cho nhà nước. Và tất cả mọi người dân đều có quyền tranh đấu để đòi hỏi chính quyền phải tôn trọng những quyền lợi của người dân đã được ghi trong hiến pháp, luật pháp và công ước quốc tế. Vấn đề quan trọng là phải tranh đấu trong ôn hòa, không bạo động, trong tinh thần tôn trọng luật pháp quốc gia.

    Đọc bản cáo trạng của Viện Kiểm Sát Nhân Dân buộc tội ba em, tôi chỉ nhận thấy bản cáo trạng đề ra những việc làm của các em như:

    Như vậy, tất cả những việc ấy, tôi không hề thấy có việc nào là vi phạm pháp luật, lại càng không thấy có việc nào đáng bị kết án là tội gián điệp cả.

    Để bị kết án là phạm tội gián điệp, bị can phải là người cung cấp cho người nước ngoài những thông tin bí mật, như bí mật quốc gia, bí mật quốc phòng, bí mật khoa học, v.v… Không thể tùy tiện cho rằng hễ cung cấp cho người ở ngoài nước bất kỳ những thông tin nào bất lợi cho nhà nước thì cũng đều là tội gián điệp cả. Những điều ba em thông tin ra nước ngoài hoàn toàn không mang tính bí mật quốc gia hay bí mật quốc phòng chút nào cả. Ba em chỉ cung cấp những thông tin về những hoạt động tranh đấu cho tự do tôn giáo của những người dân trong nước - đặc biệt của chú ruột các em là linh mục Nguyễn văn Lý - mà thôi. Vậy thì làm sao kết án ba em phạm tội gián điệp được ?

    Đúng lý ra, nếu trong nước có tự do báo chí hay tự do ngôn luận, thì tất cả những thông tin thuộc loại mà ba em muốn cung cấp đều phải được các báo chí đăng tải một cách trung thực. Nhưng rất tiếc, tại Việt Nam, tất cả mọi tờ báo đều là công cụ của nhà nước, của đảng CS, nên những tờ báo ấy dường như không bao giờ đăng những tin tức nào về cuộc tranh đấu của người dân trong nước, hay những tin tức nào bất lợi cho nhà nước và đảng CS cả. Vì thế, với tư cách những người tranh đấu cho tự do tôn giáo, để việc tranh đấu đem lại kết quả, ba em đã cung cấp những thông tin trung thực về những hoạt động tranh đấu cho tự do tôn giáo ở trong nước, hầu mọi người Việt trong nước cũng như ngoài nước biết mà ủng hộ cuộc tranh đấu đó. Đó là một cách tranh đấu bất bạo động, hoàn toàn không ra khỏi khuôn khổ mà hiến pháp và luật pháp Việt Nam cho phép.

    Vả lại, thử hỏi, muốn tranh đấu một cách bất bạo động, mà lại không cho ai biết hoạt động và lập trường tranh đấu của mình, hay của những người cùng tranh đấu với mình, thì phải làm gì để tranh đấu đây? Im lặng không nói gì, không làm gì, thì còn gì là tranh đấu nữa ? Vậy, vấn đề là nhà nước có thật sự chấp nhận cho người dân được tranh đấu một cách bất bạo động và hợp pháp như đã ghi trong hiến pháp và luật pháp không? Hay hiến pháp và luật pháp nói một đằng, nhà nước lại làm một đằng khác? Giả như hiến pháp và luật pháp ghi trắng ra rằng không một người dân nào được tranh đấu cho tự do, dân chủ hay nhân quyền cả, dù là tranh đấu bất bạo động, lúc đó ai tranh đấu mà nhà nước bắt thì cũng còn phần nào hợp lý. Còn nếu tuyên bố là người dân có quyền tranh đấu bất bạo động, mà khi họ làm điều đó thì lại bắt họ, và tìm cách kết án họ bằng một tội danh nào đó, thì rõ ràng lời nói và việc làm của nhà nước là «trống đánh xuôi, kèn thổi ngược» !

    Nếu chỉ cung cấp những thông tin đó mà đã là phạm tội gián điệp, thì thiết tưởng tất cả những phóng viên hay nhà báo nào cung cấp những tin tức bất lợi cho nhà nước, đặc biệt những tin tức về những cuộc tranh đấu đòi nhân quyền, đòi dân chủ, đòi tự do tôn giáo, tự do báo chí … thì cũng đều là phạm tội gián điệp cả hay sao? Nếu thế thì ở Việt Nam có biết bao nhiêu gián điệp khác! Thử hỏi ở những nước tự do khác, những người làm những công việc như ba em có bao giờ lại bị kết án với một tội danh như thế không? Do đó, nếu chỉ cung cấp những tin tức đó mà bị kết án là gián điệp thì đó đúng là một sự kết án hoàn toàn gượng ép. Điều đó khiến người ta có thể nghĩ: phải chăng nhà nước muốn kết án ba em vì ba em đã tranh đấu đòi tự do tôn giáo, thì để cảnh cáo và dập tắt những tiếng nói tranh đấu khác, nhà nước phải ráng tìm cho ba em một tội danh nào đó? Vì nếu không có tội danh thì làm sao mà kết án ?

    Về vấn đề luật sư, tôi thấy thế này: Luật sư Nguyễn Hồng Quang và Trương Trí Hiền đã được chính nhà nước đào tạo, có bằng tốt nghiệp hẳn hoi, thế mà khi hai luật sư tình nguyện biện hộ cho ba em trước tòa án và nhất là được gia đình của ba em bị can tín nhiệm, thì lại bị nhà nước không chấp nhận, lấy lý do là hai ông không có tư cách để biện hộ, chỉ vì không có giấy phép hành nghề. Vậy tại sao hai luật sư này lại được bào chữa trong những vụ án khác trước đó ? Thế còn những luật sư khác không được gia đình ba em tín nhiệm thì lại có tư cách biện hộ cho ba em sao ? Tư cách biện hộ hệ tại tài năng biện hộ và được thân chủ tín nhiệm, hay hệ tại việc nhà nước cho phép hay không ? Đây phải chăng là thể hiện của «cơ chế xin-cho» ?

    Như vậy là nhà nước đòi hỏi phải có tay nghề, phải có giấy phép thì mới có khả năng hay có quyền biện hộ. Nếu cũng dựa trên kiểu lý luận đó, thì ba em kia có được đào tạo ở đâu để làm gián điệp? Đâu có tay nghề để làm gián điệp không? Ba em đâu có bằng cấp, giấy phép hay sự ủy nhiệm của một quốc gia nào để làm chuyện đó ? Nếu không được đào tạo, không có giấy phép hành nghề, thì giả như ba em có thật sự muốn làm gián điệp, ba em cũng không đủ tư cách và khả năng để làm việc ấy! Và như vậy, nếu kết án các em làm gián điệp thì cũng tương tự như kết án một bác nông dân vô học đã dạy ở đại học những môn học không được phép dạy. Kết án như thế thật là buồn cười: là người vô học, mù chữ thì làm sao có đủ tư cách để phạm một tội như dạy học bất hợp pháp ở đại học? Một người không biết lái xe, chỉ trèo lên ngồi ở tay lái một chiếc xe hơi, thì không thể bị kết án là chạy xe lỗi luật đi đường được. Người ấy dù có thực tâm muốn và quyết định chạy xe để lỗi luật đi đường thì cũng không thể lỗi luật được ?

    ***

    Theo quan điểm của tôi, những việc làm của ba em mà bản cáo trạng của Viện Kiểm Sát Nhân Dân Tối Cao vào tháng 10-2002 đã kể ra, không có việc nào thật sự là vi phạm pháp luật, nhất là không hề có một việc làm nào mang tính gián điệp cả. Vì thế, tôi đề nghị Tòa Án TP. Hồ Chí Minh tuyên bố ba em trắng án, và sau đó trả tự do lại cho các em.

    Nếu Tòa Án không đồng quan điểm với tôi rằng các em vô tội, thì tôi xin đề nghị Tòa Án xử công khai vụ án này, và đồng ý cho hai luật sư Nguyễn Hồng Quang và Trương Trí Hiền được biện hộ cho ba em. Có như thế, việc xử án mới mang tính khách quan và công lý mới được sáng tỏ. Nếu Tòa Án chỉ đồng ý cho những luật sư có cùng một lập trường với công tố viện, thì rõ ràng là việc xử án không bảo đảm được tính công bằng và khách quan, và đương nhiên sẽ chẳng được mấy ai «tâm phục khẩu phục». Điều đó sẽ làm mất uy tín của ngành luật pháp Việt Nam.

    Đó chỉ là những thiển ý của tôi mong làm sáng tỏ vấn đề. Rất có thể không tránh được ít nhiều chủ quan và thiếu sót. Nhưng đó là thiện chí và lòng chân thành của tôi đối với công lý.

    Kính
    Một kitô hữu bình thường tại Việt Nam


    Vụ Án Công Giáo