Vụ Án Công Giáo

Đấu tranh cho tự do tôn giáo tại Giáo phận Huế
Bản tin ngày 01-07-2003

1. Những tiếng thét giữa sa mạc

Kính thưa Quý vị,

Một lần nữa, Đan viện Thiên An Huế và Dòng Chúa Cứu Thế Huế lại lên tiếng phản đối những việc làm mang tính chất "cướp đoạt tài sản công dân" của chính quyền Cộng sản VN. (xin xem 3 văn bản dưới đây: 1 của Thiên An; 2 của Dòng Chúa Cứu Thế).

Thế nhưng, tiếng thét đầy uất nghẹn của hai cộng đoàn tu sĩ vẫn như vang lên giữa sa mạc. Sa mạc im lặng tàn nhẫn của của những kẻ cầm quyền đã mất hết lương tâm, bất chấp lẽ phải và chà đạp ngay chính luật pháp của họ. Người ta chứng kiến một sự toa rập từ trên xuống dưới của một hệ thống toàn trị, độc chiếm tam quyền, để cùng nhau đoạt lấy những miếng mồi béo bở từ tay nhân dân đơn thân cô thế và thấp cổ bé miệng. Tiếp đến là sa mạc im lặng hờ hững của những hữu trách, bề trên vốn có nhiệm vụ làm "ngôn sứ công bố sự thật" và làm "chủ chăn bênh vực đàn chiên". (Cho tới giờ phút này, người ta không hề thấy được một văn bản ủng hộ hay phản kháng công khai nào từ phía Bản quyền địa phương trước vụ việc đau thương của hai tu viện xấu số). Sức mạnh tập thể của niềm tin tôn giáo, của cả khối Giáo hội biến đâu mất rồi ? Phải chăng vì thế mà CS ngang nhiên tiến tới ? Dư luận cho rằng với hai cú đánh thăm dò rất thành công này (vì chẳng gặp sức kháng cự tập thể mạnh mẽ nào), CS đang nhắm tới Linh địa La Vang, nơi mới được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu về 66.500m2 trên tổng số 235.580m2 (nghĩa là 6,6 ha trên 23,5 ha). Số phận 16,9 ha còn lại sẽ thế nào đây, hẳn ai cũng đoán được !

Đang lúc bản tin này đến tay Quý vị, thì khu nhà đất 31 Nguyễn Huệ (1700m2, trị giá 25 tỷ rưỡi) của DCCT đã bị xe ủi đất san bằng từ ngày 27-06-03 để nhà nước CS xây lên cái gọi là "Trung tâm Nha khoa Cộng đồng TT-Huế" (xin xem hình chụp dưới đây). Việc thêm chữ "cộng đồng" này phải chăng không là một trò mỵ dân, che giấu một màn cướp đoạt thô bỉ trắng trợn ? Càng gian dối tàn bạo chừng nào, càng phải tỏ ra giả nhân giả nghĩa chừng ấy !

++++++++++++++++++++++++++++++

ĐAN VIỆN THIÊN AN
Thủy Bằng, Hương Thủy, TT Huế
Văn Thư số 27/VT-VPTA
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Thiên An, ngày 25 tháng 6 năm 2003

Kính gửi :

  • ÔNG BÍ THƯ TỈNH ỦY TỈNH TT-HUẾ
  • ÔNG CHỦ TỊCH UBND TỈNH TT-HUẾ

    Đồng kính gởi ÔNG NGUYỄN XUÂN LÝ, PHÓ CHỦ TỊCH UBNDTỈNH TT-HUẾ

    Tôi là linh mục Huỳnh Quang Sanh, Bề trên, đại diện tập thể đan sĩ đan viện Thiên An, sau khi xem xét Văn thư số 1390/KN-UB ngày 13-6-2003 của UBND tỉnh Thừa Thiên Huế gửi cho đan viện Thiên An, chúng tôi có vài ý kiến trình bày với Quí vị như sau:

    Kính thưa Quí vị,

    Trước hết, thay mặt cho tập thể đan sĩ đan viện Thiên An, tôi có lời cảm ơn Quí vị; qua Quí vị, tôi cám ơn Tỉnh ủy và UBND tỉnh đã quan tâm đến đan viện Thiên An chúng tôi. Đặc biệt, Quí vị đã lưu tâm đến việc Đan viện muốn giữ lại một số diện tích rừng thông để Đan viện chăm sóc bảo vệ, như Quí vị đã nói rõ trong Văn Thư số 1390/KN-UB trên.

    Ước mong của tập thể đan sĩ đan viện Thiên An chúng tôi là muốn giữ lại một số diện tích rừng thông do chúng tôi trồng và chăm sóc, và được UBND tỉnh giao trực tiếp cho Đan viện, chứ chúng tôi không xin được nhận khoán lại rừng thông của Lâm trường Tiền phong. Chính vì thế, chắc chắn Quí vị sẽ hiểu và thông cảm cho ... vì sao chúng tôi không đồng ý và hợp tác với những gì Quí vị, thông qua các ban ngành, muốn làm cho Đan viện chúng tôi trong thời gian vừa qua.

    Thực thế, ngày 2-7-2002, các đan sĩ Thiên An chúng tôi đã kiến nghị tập thể tại Phủ Thủ tướng, để trao đơn khiếu nại khẩn cấp lần 2 gửi Thủ tướng Chính phủ ngày 29-6-2002, phản đối quyết định 577/QĐ-XKT ngày 6-6-2002 của Tổng Thanh tra Nhà nước. Trong cuộc họp sau đó vào ngày 4-7-2002 với chúng tôi, các vị lãnh đạo Chính quyền TW tại Phủ Thủ tướng đã phải xác nhận rằng: trong quyết định trên, Tổng Thanh tra Nhà nước không bao giờ xem các đan sĩ Thiên An là đối tượng thuộc tập đoàn thống trị tay sai đế quốc Mỹ, tư sản mại bản quan liêu quân phiệt phát xít, địa chủ phong kiến phản động nhất, và hình thức bóc lột thực dân mới mà các nghị định số 01/NĐ-75, quyết định số 31/QĐ-76 và quyết định số 188/CP-76 nhắm tới. Như thế, việc Tổng Thanh tra Nhà nước trưng dẫn 3 bản văn vừa nêu trên để nói rằng rừng thông Đan viện Thiên An đã bị điều chỉnh, đã bị lãnh đạo Chính quyền TW xác nhận là sai lầm và thiếu khách quan.

    Cũng trong đơn khiếu nại khẩn cấp lần 2 này (đính kèm), chúng tôi đã chứng minh: chưa bao giờ UBND Cách mạng TT-Huế giao rừng thông Thiên An chúng tôi cho Lâm trường Tiền Phong quản lý cả. Nếu rừng thông Thiên An chúng tôi chưa bị điều chỉnh, chưa bị thu hồi, chưa bao giờ hiến tặng, chưa được UBND Cách mạng TT-Huế giao cho Lâm trường Tiền Phong, thì rõ ràng Lâm trường Tiền Phong đang chiếm dụng rừng thông của chúng tôi bất hợp pháp. Nói đúng hơn, và đang được thực tế chứng minh: Lâm trường Tiền Phong đang cưỡng chiếm rừng thông của chúng tôi. Một tổ chức chiếm dụng bất hợp pháp được xem là chủ hợp pháp của rừng thông Thiên An. Thật trớ trêu! Chính quyền nào đã công nhận việc làm đó và cá nhân vị lãnh đạo nào lại làm được một việc mà không một người lương thiện nào có thể làm được vậy ?!

    Kính thưa Quí vị, chắc Quí vị cũng đồng ý với chúng tôi rằng: chúng ta không thể đặt nền tảng cho sự giải quyết những bức xúc hiện tại trên một việc làm sai trái. Từ góc độ đạo đức xã hội, một việc làm như thế sẽ làm cho trật tự và an toàn xã hội bị phá vỡ, niềm tin vào tương lai trở thành chủ nghĩa cơ hội hoặc lâm vào ngõ cụt, cuộc sống ngày càng bị phân hóa, tội phạm ngày càng tăng ... Chính vì muốn cho sự việc được giải quyết ổn thỏa và êm đẹp, chúng tôi đã đề nghị Quí vị giao trực tiếp cho chúng tôi một số rừng thông quanh Đan viện, trong đó có đồi Đức Mẹ và các cơ sở thờ tự khác của chúng tôi. Việc làm đó rất phù hợp với chính sách đất rừng hiện nay của Nhà nước và phù hợp với lẽ phải là chúng tôi, những người trồng và chăm sóc rừng thông này, rất xứng đáng để được giao quản lý chăm sóc bảo vệ nó, cũng là bảo vệ khu vực tịnh tu của chúng tôi.

    Trên đây là một vài ý kiến, mà tôi là người đại diện, muốn trình bày với Quí vị, mong Quí vị hiểu và lưu tâm giải quyết ổn thỏa và dứt điểm việc đan viện Thiên An chúng tôi yêu cầu được UBND tỉnh giao trực tiếp một số rừng thông. Ước mong Quí vị tạo điều kiện để các đan sĩ Thiên An chúng tôi sống và yên tâm tu trì.

    Cám ơn Quí vị đã quan tâm lắng nghe. Trân trọng kính chào Quí vị

    Nơi gửi:
    - Như trên
    - Công An, Ban Tôn Giáo, MTTQ tỉnh TT-H.
    - UBND, Công An huyện Hương Thủy.
    - UBND, MTTQ xã Thủy Bằng.
    - Đan phụ Chủ tịch Tu hội Subiaco để kính trình.
    - Đức Tổng Giám mục - Giáo phận Huế để kính trình.
    - Các linh mục và các dòng tu Gp Huế, để hiệp thông.


    Bề trên đan viện Thiên An
    (ký tên và đóng dấu)
    Đan phụ Têphanô Huỳnh Quang Sanh

    ++++++++++++++++++++++++++++++

    CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
    Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

    Huế ngày 08 tháng 06 năm 2003

    ĐƠN KHIẾU NẠI KHẨN CẤP
    Quyết định của Bộ trưởng Bộ Xây dựng số 797/QĐ-BXD ngày 04-06-2003
    v/v giải quyết khiếu nại của Linh mục Lê Viết Phục, Tu viện trưởng Tu viện Dòng Chúa Cứu Thế Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế

    Kính gởi Ngài Thủ tướng Chính phủ Phan Văn Khải

    Kính thưa Ngài Thủ tướng Chính phủ

    Chúng tôi toàn thể Dòng Chúa Cứu Thế Huế, từ Tu viện trưởng đến các Linh mục kính trình bày với Ngài Thủ tướng về Quyết định của Bộ trưởng Bộ Xây dựng số 797/QĐ-BXD ngày 04-6-2003 v/v giải quyết khiếu nại của Linh mục Lê Viết Phục, Tu viện Dòng Chúa Cứu Thế Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế như sau:

    Ngài Bộ trưởng Bộ Xây dựng sau khi nghiên cứu hồ sơ và xác minh tại chỗ đã quyết định công nhận nội dung Quyết định số 219/QĐ-UB ngày 23-01-2002 của UBND tỉnh Thừa Thiên Huế về việc giải quyết khu nhà đất 31 Nguyễn Huệ, phường Phú Nhuận thành phố Huế và coi đây là Quyết định cuối cùng giải quyết khiếu nại của Dòng chúng tôi xin lại khu đất trên.

    Về Quyết định 219/QĐ-UB ngày 23-01-2002 của UBND tỉnh Thừa Thiên Huế, Dòng chúng tôi đã có Đơn Khiếu nại khẩn cấp (số 2) về QĐ này đề ngày 15-03-2002 gởi đến Ngài lãnh đạo đất nước, Đảng, Quốc hội, Chính phủ, Thanh tra Nhà nước, Ban Tôn giáo. Chúng tôi tin tưởng chắc chắn rằng Trung ương Hà Nội sẽ minh xét đặng bảo hộ quyền lợi hợp pháp cho con dân, sớm trả lại khu nhà 31 Nguyễn Huệ cho Dòng chúng tôi làm việc bác ái và khẩn cấp ngăn chặn Sở Y tế Thừa Thiên Huế triển khai thực hiện QĐ 219 của UBND tỉnh khi chưa giải quyết khiếu nại của chúng tôi (có sao Đơn Khiếu nại khẩn cấp số 2 kèm theo).

    Nay Ngài Bộ trưởng Bộ Xây dựng cho rằng giấy mượn nhà ngày 01-08-1975 không còn hiệu lực vì Tổng Giám Mục Huế đã "trao nhượng cho Chính quyền địa phương" (17-11-1975) và Ngài Bộ trưởng khẳng định Sở Y tế "có mượn" nhưng Ngài Bộ trưởng lại quyết định "không trả" theo QĐ 219 của UBND tỉnh là trái với Nghị quyết số 58 ngày 20-08-1998 của Quốc Hội về giao dịch dân sự về nhà ở được xác lập trước ngày 01-07-1993 qui định "trong trường hợp Chính quyền mượn nhà làm việc, làm trụ sở, thì phải trả cho bên cho mượn".

    Ngài Bộ trưởng nói lý do QĐ "không trả" vì Tổng Giám Mục Huế "đã trao nhượng cho Chính quyền địa phương". Dòng chúng tôi đã nhiều lần trình bày với Chính quyền địa phương về hệ thống tổ chức của Giáo hội chúng tôi là Người Bề trên chỉ ra "lời kêu gọi các cơ sở trao nhượng sử dụng". Còn việc giải quyết "hiến dâng" là tùy thuộc các cơ sở Giáo hội bên dưới định đoạt bằng giấy tờ, văn tự với Chính quyền Cách mạng địa phương theo pháp luật. Trên thực tế, cố Tổng Giám Mục Nguyễn Kim Điền không hề thể hiện tinh thần giành cho mình quyền định đoạt sở hữu tài sản của các cơ sở Giáo hội trong văn thư số 50 ngày 17-11-1975.

    Và Ngài Bộ Trưởng đã viện dẫn qui định tại Khoản 03 Điều 11 Nghị định số 26/NĐ-CP ngày 19-04-1999 của Chính phủ về các hoạt động tôn giáo thì "nhà đất và các tài sản khác đã được tổ chức cá nhân tôn giáo chuyển giao cho các cơ quan Nhà nước quản lý, sử dụng ... thì thuộc quyền sở hữu của Nhà nước CHXHCN Việt Nam". Nhưng xét trên thực tế, Dòng chúng tôi cho Sở Y tế tỉnh Thừa Thiên mượn khu nhà đất 31 Nguyễn Huệ Huế không có văn bản "chuyển giao" như Ngài Bộ trưởng viện dẫn tại Nghị định trên.

    Kính thưa Ngài Thủ tướng Chính phủ,

    Dòng Chúa Cứu Thế kính xin Ngài Thủ tướng Chính phủ xem xét giải quyết Quyết định 797/QĐ-BXD ngày 04-06-2003 của Ngài Bộ trưởng Bộ Xây dựng. Một Quyết định không phù hợp với thực tế (de facto), không phù hợp với pháp luật (de jure), không phù hợp với đạo lý xã hội cộng đồng; không để Chính quyền địa phương làm phức tạp thêm nội vụ trả lại nhà 31 Nguyễn Huệ cho Dòng chúng tôi, bởi việc làm này không được nhân dân kể cả cán bộ hưu trí, dương chức, nhất là giáo dân DCCT đồng tình.

    Việc giải quyết trả nhà 31 Nguyễn Huệ cho Dòng chúng tôi là việc giải quyết tách riêng của một Dòng tu ở Huế, không để Chính quyền địa phương đánh đồng trong việc giải quyết làm phức tạp thêm nội vụ rồi lấy đó làm căn cứ cho rằng Dòng chúng tôi không thi hành QĐ của UBND tỉnh để xử lý sang một hướng khác bất lợi cho Dòng chúng tôi.

    Còn việc Chính quyền địa phương xin Dòng cho đổ đất hồ nuôi cá của Dòng từ năm 1998 (khoảng 1.500m2) để xây chung cư cao tầng, mục đích chuyển các hộ trong khu tập thể 31 Nguyễn Huệ hầu có điều kiện trả lại nhà đất 31 Nguyễn Huệ sớm hơn. Xây cất xong, các hộ đã được chuyển ra đó, việc trả nhà đất 31 Nguyễn Huệ lại không giải quyết cho Dòng chúng tôi như đã giao ước. Kính xin Ngài Thủ tướng Chính phủ có ý kiến.

    Dòng Chúa Cứu Thế Huế chúng tôi khẩn thiết đề nghị Ngài Thủ tướng Chính phủ xem xét giải quyết trả lại nhà 31 Nguyễn Huệ, tài sản sở hữu chung của Dòng chúng tôi theo quyết định và Dòng chúng tôi khẩn thiết đề nghị các cơ quan hữu trách Trung ương có biện pháp khẩn cấp ngăn chặn Sở Y tế Thừa Thiên Huế triển khai thực hiện Quyết định 219/QĐ-UB ngày 23-01-2002 của UBND tỉnh Thừa Thiên Huế khi Trung ương chưa giải quyết tiếp khiếu nại của chúng tôi.

    DCCT Huế chúc Ngài Thủ tướng Chính phủ khang an.

    Kính đơn    

    (ký tên)
    LM Nguyễn Trần Tuấn
    Phó Tu viện trưởng DCCT Huế

    (ký tên và đóng dấu)
    LM Lê Viết Phục
    Tu viện trưởng DCCT Huế

    Nơi nhận:
    - Như trên
    - Văn phòng CP
    - Thanh tra Việt Nam
    - Ban Tôn giáo
    - Lưu DCCT Huế

    ++++++++++++++++++++++++++++++

    CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
    Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

    Huế ngày 13 tháng 06 năm 2003

    KÍNH BÁO CÁO KHẨN CẤP
    NGÀI THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ PHAN VĂN KHẢI

    Sáng ngày 13 tháng 06 năm 2003, lúc 8 giờ 00, UBND tỉnh mời Lm Tu viện trưởng DCCT Huế đến họp tại văn phòng UBND Tỉnh với nội dung nghe công bố quyết định của Bộ trưởng Bộ Xây dựng số 797/QĐ-BXD ngày 04/06/2003 về việc giải quyết khiếu nại của Lm Lê Viết Phục Tu viện trưởng tu viện Dòng Chúa Cứu Thế Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế.

    Hiện diện phía chính quyền: Ông Lê An Ninh, chánh văn phòng UBND tỉnh. Đại diện Sở Xây dựng, Sở Địa chính, Mặt trận tỉnh, Trưởng ban Tôn giáo tỉnh, UBND thành phố, Sở Y tế và một số đại diện các cơ quan liên hệ.

    Hiện diện phía Dòng Chúa Cứu Thế Huế: Lm Tu viện trưởng Lê Viết Phục, Lm Nguyễn Trần Tuấn và nữ tu Nguyễn Thị Khẩn.

    Nội dung buổi làm việc: Ông Lê An Ninh, chánh văn phòng UBND tỉnh đọc quyết định của Bộ Xây dựng số 797/QĐ-BXD ngày 04/06/2003 cho tất cả các thành phần tham dự. Nghe xong, ông Lê An Ninh xin Lm Tu viện trưởng cho ý kiến.

    Ý kiến Lm Tu viện trưởng Lê Viết Phục: Tôi xin đại diện anh em Linh mục DCCT Huế: Lm Nguyễn Đình Lành hiện sức khỏe yếu dần, Lm cựu Bề trên Nguyễn Hoàng Diệp và các anh em thuộc DCCT Huế, cùng thay mặt Lm Bề trên Giám tỉnh, Tỉnh Dòng Chúa Cứu Thế tại Việt Nam. Chúng tôi không đồng tình với quyết định của Bộ Xây Dựng. Vì vậy chúng tôi đã có đơn khiếu nại khẩn cấp lên Thủ tướng Chính phủ (Đơn đề ngày 08/06/2003).

    Ông Lê An Ninh: Lm có ý kiến, có nguyện vọng thì cứ tiếp tục khiếu nại lên cấp trên, còn việc thi hành quyết định của Bộ Xây Dựng thì kể từ giây phút này chúng tôi có trách nhiệm thi hành. Không chần chừ. Ông Vinh đại diện UBND Thành phố cũng đồng ý với ý kiến của ông Lê An Ninh.

    Kết thúc, ông Lê An Ninh tóm: Việc Tu viện trưởng có nguyện vọng thì cứ đề xuất lên cấp trên, còn việc thi hành quyết định thì kể từ đây chúng tôi bắt tay vào việc. Việc làm vướng đến đâu chúng ta gỡ chỗ đó. Cuối cùng ông Lê An Ninh tuyên bố đọc lại biên bản để ký.

    Trước khi ký, Lm Tu viện trưởng Lê Viết Phục ghi vào tờ biên bản như sau:

    1. Chúng tôi không đồng tình với quyết định của Bộ Xây Dựng và chúng tôi đã gởi đơn khiếu nại khẩn cấp lên Thủ tướng Chính phủ.
    2. Chúng tôi yêu cầu Tỉnh ngưng việc thi hành quyết định của Bộ Xây Dựng trong khi chờ đợi quyết định của Thủ tướng Chính Phủ.

    Dòng chúng tôi kính báo khẩn cấp lên ngài Thủ tướng Chính phủ, tha thiết mong ngài quan tâm giải quyết ngăn chận việc địa phương thi hành quyết định của Bộ Xây dựng khi chúng tôi đang khiếu nại khẩn cấp lên ngài Thủ tướng Chính phủ.

    DCCT Huế kính chúc ngài Thủ tướng Chính phủ khang an

    Tu viện trưởng DCCT Huế
    (đóng dấu và ký tên)
    LM Lê Viết Phục

    *** Đồng thời với Báo cáo khẩn cấp trên, cha Lê Viết Phục cũng gởi một Báo cáo khẩn cấp khác, có cùng nội dung, cho ông Hồ Xuân Mãn, Ủy viên Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Bí thư Tỉnh ủy tỉnh Thừa Thiên Huế, Chủ tịch Hội đồng Nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế. Câu cuối cùng của Báo cáo viết: "Dòng chúng tôi kính báo khẩn cấp lên ngài Hồ Xuân Mãn, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy tỉnh Thừa Thiên Huế, Chủ tịch HĐND tỉnh Thừa Thiên Huế, tha thiết mong ngài quan tâm giải quyết ngăn chận việc địa phương thi hành quyết định của Bộ Xây dựng khi chúng tôi đang khiếu nại khẩn cấp lên ngài. DCCT Huế kính chúc ngài khang an".

    2. Cuộc tấn công tổng lực nhắm vào các tôn giáo đã mở màn

    Kính thưa Quý vị,

    Song song với việc tước đoạt tài sản chúng ta vừa thấy ở trên, Cộng sản còn muốn tước đoạt dần dần tự do của các tôn giáo, các giáo hội, các tín đồ. Kể từ giữa tháng 3 năm nay, một cuộc học tập với quy mô cả nước về "Đề cương giới thiệu những nội dung cơ bản của ba Nghị quyết: về đại đoàn kết dân tộc, về công tác dân tộc, về công tác tôn giáo" (chúng tôi sẽ gởi tài liệu này lần sau) rồi những hội nghị, hội thảo toàn quốc nhằm hoàn chỉnh "Pháp lệnh về Tôn giáo" (nay đã đến Dự thảo số 19) và hoàn chỉnh "Nghị định quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh" này (nay đã đến Dự thảo số 4) cho thấy cuộc tấn công tổng lực của Cộng sản đặc biệt nhắm vào các tôn giáo đã mở màn. Những cuộc nổi dậy của các sắc tộc thiểu số bị chèn ép, của các tôn giáo bị cột dây thòng lọng, của các nhân sĩ trí thức bị khóa miệng trói tay từ mấy chục thập niên nay ... đã khiến đảng CS như điên cuồng và muốn mau chóng thu hồi lại quyền lực đã bị rệu rã, bằng nhiều biện pháp kiểm soát hết sức chặt chẽ và khắc nghiệt chưa từng thấy, đặc biệt đối với khối sức mạnh tinh thần là các tôn giáo. Nhưng đó là dấu chỉ đảng CS đã phân hóa tột cùng và ngày tàn của một chế độ độc tài toàn trị gian dối bạo tàn, bất lực thất đức đã điểm.

    Dưới đây, chúng tôi xin gởi đến Quý vị "Báo cáo tổng thuật về việc thể chế hóa Nghị quyết 25 của Trung ương đảng bằng Pháp lệnh Tôn giáo" và "Nghị định Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Tôn giáo". Kính xin những nhà luật học phân tích và nhận định thấu đáo về hai cũi sắt Pháp lệnh (đã có trên mạng) và Nghị định này. Chúng tôi cũng ước mong hai bản văn này được dịch ra nhiều thứ tiếng và tung ra mọi nơi để ai nấy thấy nhãn tiền nền pháp lý "bảo đảm tự do tôn giáo" và "dân chủ, ưu việt, nhân đạo" của Cộng sản.

    Sau hết, cùng với các vụ việc gần đây: xử án man rợ chiến binh Nguyễn Khắc Toàn và bác sĩ Phạm Hồng Sơn, đàn áp anh em Tin lành Tây nguyên và giáo xứ Tin lành quận 2 Sài gòn, hoãn vô thời hạn phiên tòa xử ba cháu cha Lý, ém nhẹm cái chết bí ẩn của Đức ông Điềm, khủng bố Giáo hội Phật giáo Hòa Hảo, cày xéo đồi Thánh giá La Vang ... chúng tôi xin gởi những thông tin sốt dẻo hôm nay (Thiên An, DCCT, Pháp lệnh Tôn giáo) cùng với các vụ việc đó đến những nhà tổ chức "Hội Ngộ Niềm Tin" sắp tới ở Rôma để họ có thêm lý do mà cử hành ngày "Vui quê hương". Quê hương bây giờ vui lắm! Vui như thế đấy!

    Phóng viên tường trình từ Huế

    ++++++++++++++++++++++++++++++

    BAN TÔN GIÁO CỦA CHÍNH PHỦ
    Số: /2003/TGCP-PC

    CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
    Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

    Hà Nội, ngày ... tháng ... năm 2003

    BÁO CÁO TỔNG THUẬT
    Dự thảo 19 Pháp lệnh về Tôn giáo thể chế Nghị quyết 25-NQ/TW
    Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương khóa IX lần thứ 7

    Thực hiện Nghị quyết Quốc hội khóa IX kỳ họp thứ 8 năm 1996, Pháp lệnh về tôn giáo được khởi thảo. Công tác khảo sát được tiến hành từ cơ sở, trên nhiều vùng đất nước; việc thu thập tài liệu trong và ngoài nước cũng được hết sức coi trọng và được tổ chức giới thiệu ở các hội nghị toàn quốc cán bộ làm công tác tôn giáo. Dự án đã được giới thiệu và xin ý kiến đóng góp của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể ở Trung ương. Chính phủ đã có hai phiên họp để nghe Ban Tôn giáo của Chính phủ trình Dự án Pháp lệnh về Tôn giáo và sau đó các thành viên Chính phủ đã cho ý kiến những vấn đề quan trọng để tiếp tục tu chỉnh Dự án (ngày 14/7/2000 và ngày 3/7/2001). Ngày 16 tháng 10 năm 2000, Ban Tôn giáo của Chính phủ cũng đã được trình bày Dự thảo lần thứ 12 trước cuộc họp chính thức của Ủy ban các vấn đề xã hội của Quốc hội. Các thành viên đều tham gia ý kiến cụ thể vào nhiều nội dung để Ban Tôn giáo của Chính phủ tiếp thu. Bản Đề cương đã được giới thiệu và lấy ý kiến của các tổ chức tôn giáo lớn ở Việt Nam như: Hội đồng Giám mục Việt Nam, Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam và của Ủy ban Đoàn kết Công giáo Việt Nam. Ban Tôn giáo của Chính phủ đã nghiêm túc tiếp thu ý kiến đóng góp và tiếp tục tu chỉnh Dự án.

    Ngày 25 tháng 9 năm 2001, Dự án Pháp lệnh về Tôn giáo được trình bày trong phiên họp Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa X. Tại phiên họp, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An đã có kết luận chỉ đạo: "Cần tiếp thu ý kiến của UBTVQH tại phiên họp này cũng như ý kiến đóng góp của nhân dân, các ngành, các cấp để chỉnh lý Dự thảo. Pháp lệnh phải bám sát vào Hiến pháp của Quốc hội, Nghị quyết của Bộ Chính trị, kế thừa các Nghị định trước đây và trên cơ sở tổng kết những vấn đề bức xúc từ thực tiễn. Tuy nhiên về thời điểm công bố Pháp lệnh khi đã được UBTVQH thông qua thì sẽ tính toán cho phù hợp". Đồng thời Chủ tịch cũng đề ra những nội dung cụ thể trong Pháp lệnh, yêu cầu các cơ quan soạn thảo cần phải làm rõ hơn.

    Thực hiện sự chỉ đạo của Chính phủ và Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Ban Tôn giáo của Chính phủ đã tập trung, gấp rút thực hiện các công việc như: tổ chức sơ kết 3 năm thực hiện Nghị định 26/CP, thực hiện các hội thảo, đề tài nghiên cứu chuyên sâu về các lĩnh vực cụ thể trong Pháp lệnh như: đất đai, nhà, tài sản khác của tôn giáo, hội đoàn tôn giáo. Đồng thời trong quá trình đó, Ban Tôn giáo của Chính phủ vừa tổng kết thực tiễn, vừa tham mưu cho Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương khóa IX (lần thứ 7) ra Nghị quyết về công tác tôn giáo (thực hiện đề án ĐK 3), chủ động phối kết hợp với Ủy ban Các vấn đề xã hội của Quốc hội, Bộ Tư pháp, các bộ, ban, ngành có liên quan tiếp tục tu chỉnh Dự án Pháp lệnh. Đến nay đã hoàn chỉnh Dự thảo 19 Pháp lệnh về Tôn giáo để chuẩn bị báo cáo UBTVQH vào tháng 6/2003.

    I. CÁC NGUYÊN TẮC CHỈ ĐẠO TRONG QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG PHÁP LỆNH (DỰ THẢO 19).

    1. Quán triệt và thể chế hóa một cách nghiêm túc và triệt để đường lối, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam về tôn giáo trong các văn kiện của Đảng, đặc biệt là Báo cáo chính trị của Đại hội Đảng lần thứ IX tháng 04 năm 2001 và Nghị quyết 25-NQ/TW Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương khóa IX về công tác tôn giáo ngày 12/3/2003. Nghị quyết 25-NQ/TW là văn kiện rất quan trọng của Đảng đối với công tác tôn giáo. Nội dung văn kiện đề cập một cách toàn diện chủ trương, quan điểm của Đảng đối với vấn đề tôn giáo trong tình hình hiện nay, đặt nền tảng cho việc thể chế hóa thành Luật tín ngưỡng, tôn giáo sau này. Riêng đối với Dự án Pháp lệnh, hiện nay chưa đủ sức tiếp thu Nghị quyết một cách toàn diện mà chỉ tập trung thể chế hóa những vấn đề cấp bách, bức xúc đã được Đảng chỉ ra và chọn những trọng tâm thiết yếu. Còn đối với những vấn đề mà trước đây trong Pháp lệnh còn có nhiều ý kiến khác nhau nay đã được Nghị quyết đề cập đến thì Pháp lệnh tiếp thu một cách nghiêm túc. Những vấn đề mới, được Hội nghị Trung ương 7 nêu ra thì phải được thể chế không những trong Pháp lệnh mà còn trong Nghị định hướng dẫn thi hành (Nghị định sẽ được chỉnh sửa song song với Pháp lệnh).

    2. Cụ thể hóa tinh thần của Hiến pháp 1992 đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25 tháng 12 năm 2001 của Quốc hội khóa X, kỳ họp thứ 10 và các văn bản pháp luật khác có liên quan đến tôn giáo nhằm thể hiện tính thống nhất, đồng bộ của Dự án này với hệ thống pháp luật hiện hành.

    3. Kế thừa và phát triển những quy định về tôn giáo đã được thực thi và ổn định trong cuộc sống. Bảo đảm quyền sinh hoạt tôn giáo bình thường theo pháp luật, góp phần ổn định an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội.

    4. Chỉnh sửa, làm rõ những vấn đề đã được Ủy ban Thường vụ Quốc hội quan tâm và cho ý kiến tại phiên họp 25/9/2001 về Pháp lệnh về Tôn giáo. Đặc biệt là những vấn đề được Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An kết luận.

    5. Giữ nguyên những nội dung đã ổn định, những vấn đề đã được Chính phủ thông qua và Ủy ban Thường vụ Quốc hội không có ý kiến khác. Vì đây là ý kiến chính thức của Chính phủ.

    Tuy nhiên trong quá trình xây dựng các quy định, có một tồn tại là mỗi tôn giáo có mỗi đặc trưng, đặc thù riêng của mình, do vậy các quy định trong Pháp lệnh mang tính định khung, chúng tôi cố gắng nêu, mô tả những đặc trưng cơ bản nhất của các tôn giáo hoặc của đa số các tôn giáo; đối với những nét đặc thù khác biệt của một vài tôn giáo nhỏ lẻ có thể các quy định chưa khái quát hoặc không có khả năng khái quát được thì buộc phải tuân thủ theo những đặc trưng chung của đa số các tôn giáo khác.

    II. CÁC NỘI DUNG CÓ SỰ CHỈNH LÝ SO VỚI DỰ THẢO PHÁP LỆNH VỀ TÔN GIÁO ĐÃ ĐƯỢC CHÍNH PHỦ THÔNG QUA TRONG CUỘC HỌP NGÀY 3/7/2001 VÀ TRÌNH UỶ BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI NGÀY 25/9/2001.

    1. Lời nói đầu:

    Lời nói đầu phải thể chế được những quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách mới về tôn giáo của Đảng và Nhà nước trong thời gian gần đây, đặc biệt là thể hiện những quan điểm của Đảng trong Nghị quyết số 25-NQ/TW Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa IX về công tác tôn giáo, Hiến pháp 1992 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2001), các luật tổ chức: Luật của Quốc hội số 30/2001/QH10 ngày 25 tháng 12 năm 2001 về tổ chức Quốc hội, Luật của Quốc hội số 32/2001/QH10 ngày 25 tháng 12 năm 2001 về Tổ chức Chính phủ ...

    Do vậy Dự thảo lần này có lời nói đầu như sau:

    "Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Đồng bào các tôn giáo là bộ phận của khối đại đoàn kết toàn dân tộc;

    Nhằm tăng cường đoàn kết đồng bào các tôn giáo trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh;

    Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25 tháng 12 năm 2001 của Quốc hội khóa X, kỳ họp thứ 10;

    Căn cứ Nghị quyết của Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 2 về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2003;

    Pháp lệnh này quy định về tôn giáo."

    2. Các khái niệm nêu tại Điều 3.

    Trước đây dự thảo có 15 khái niệm thuật ngữ, đến nay để tránh việc trừu tượng hóa các khái niệm, câu chữ trong Pháp lệnh, chúng tôi rút gọn còn 12 khái niệm và đồng thời có sự chỉnh đổi, bổ sung như sau:

    "Điều 3. Trong Pháp lệnh này, các từ ngữ được hiểu như sau:

    1. Tổ chức tôn giáo là pháp nhân đại diện cho một cộng đồng người cùng chung một tôn giáo, có tôn chỉ, mục đích, đường hướng hành đạo, cơ cấu tổ chức, hiến chương, điều lệ được Nhà nước công nhận.
    2. Tổ chức cơ sở tôn giáo là đơn vị thuộc cơ cấu tổ chức của tổ chức tôn giáo, được thành lập theo hiến chương, điều lệ của tổ chức tôn giáo đã được Nhà nước công nhận.
    3. Hội đoàn tôn giáo là hình thức tổ chức tập hợp tín đồ của các tôn giáo nhằm phục vụ sinh hoạt tôn giáo.
    4. Tín đồ là người có tín ngưỡng, tự nguyện theo tôn giáo và được một tổ chức tôn giáo chấp thuận.
    5. Chức việc là tín đồ có tham gia công việc quản lý của tổ chức tôn giáo.
    6. Nhà tu hành là tu sĩ sống trong tu viện (chùa, nhà thờ, thánh thất, ...), rời khỏi đời sống gia đình hoặc người có đời sống gia đình tự nguyện chuyên trì thực hiện nếp sống tôn giáo (theo giáo lý và hệ thống tổ chức của giáo hội).
    7. Chức sắc là nhà tu hành có chức vụ quản lý (chức) và phẩm sắc, tước hiệu (sắc) trong giáo hội.
    8. Nơi thờ tự là nơi thờ cúng và diễn ra các nghi lễ tôn giáo.
    9. Cơ sở tu hành là nơi ở và tu của các nhà tu hành.
    10. Cơ sở đào tạo của tôn giáo là trường, lớp đào tạo những người chuyên hoạt động tôn giáo.
    11. Cơ sở tôn giáo là nơi thờ tự, cơ sở tu hành, cơ sở đào tạo của tôn giáo và những cơ sở khác được Nhà nước thừa nhận.
    12. Hoạt động tôn giáo là hoạt động truyền bá giáo lý, thực hành giáo lễ, quản lý giáo hội của một tôn giáo, còn gọi là truyền đạo, hành đạo, quản đạo."

    3. Vấn đề về tổ chức tôn giáo, công nhận tổ chức tôn giáo.

    a. Tình hình thực tiễn.

    Thực tế hiện nay, khái niệm "tổ chức tôn giáo" đang được hiểu với nhiều nghĩa khác nhau, tổ chức tôn giáo thông thường được hiểu là khái niệm bao trùm chỉ những hình thức mang tính tổ chức của các tôn giáo. Những tổ chức mang tính quy mô của tôn giáo như: Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Hội đồng Giám mục Việt Nam, các giáo hội của đạo Cao đài (9 giáo hội), các Hội thánh Tin lành (2 hội thánh), Ban Đại diện Phật giáo Hòa Hảo, Ban đại diện cộng đồng Hồi giáo Thành phố Hồ Chí Minh (tạm thời chúng tôi gọi là hình thức tổ chức tôn giáo nhóm 1) đã và đang được hiểu là "tổ chức tôn giáo". Còn các đơn vị nhỏ lẻ, mang tính tổ chức của tôn giáo thuộc các giáo hội, tổ chức kể trên như: các chùa, các nhà thờ, các thánh đường, thánh thất ... cũng được coi là "tổ chức tôn giáo"; ngay cả những ban trị sự, ban đại diện Phật giáo, ban hành giáo ở các giáo xứ, họ đạo của Công giáo ... cũng được xem là "tổ chức tôn giáo" (tạm thời gọi là hình thức tổ chức tôn giáo nhóm 2). Điều này gây rất nhiều khó khăn trong việc xây dựng các quy định pháp luật cho các "tổ chức tôn giáo" này. Bởi vì mỗi hình thức "tổ chức tôn giáo" trên thì có địa vị pháp lý khác nhau, có quyền, nghĩa vụ khác nhau, có tư cách khác nhau. Đơn cử như: quy định về việc công nhận tổ chức tôn giáo quy định tại Điều 15 Dự thảo Pháp lệnh chỉ áp dụng cho các hình thức "tổ chức tôn giáo" là các giáo hội tôn giáo và các tổ chức tương đương (thuộc nhóm 1) mà thôi, còn các tổ chức tôn giáo nhóm 2 thì không áp dụng quy định này; hoặc quy định về đăng ký, xin phép đối với hoạt động tôn giáo thì chủ thể phải thực hiện là các tổ chức tôn giáo nhóm 2 chứ không phải là tổ chức tôn giáo nhóm 1; hoặc quy định về phong chức, phong phẩm quy định tại Khoản 1 Điều 29 Dự thảo Pháp lệnh "do tổ chức tôn giáo quyết định" thì tổ chức tôn giáo ở đây là các giáo hội và các tổ chức tương đương, còn tại Khoản 2 thì tổ chức tôn giáo ở đây không phải là các giáo hội mà là các hình thức tổ chức tôn giáo nhóm 2. Do vậy nhất thiết phải có sự phân biệt giữa các giáo hội tôn giáo (các hình thức tổ chức tôn giáo nhóm 1) và các hình thức tổ chức tôn giáo nhóm 2 để thực hiện tính minh bạch của pháp luật, giúp các quy định được rõ ràng, dễ hiểu, hiểu theo một nghĩa, đồng thời để trong quá trình thực thi tránh sự hiểu nhầm, dẫn đến tùy tiện của chính quyền, cũng như sự lợi dụng sơ hở luật pháp của các đối tượng thi hành.

    b. Giải pháp

    Từ những yêu cầu trên, chúng tôi kiến nghị đưa ra khai khái niệm: tổ chức tôn giáo và tổ chức cơ sở tôn giáo như sau:

    1. "Tổ chức tôn giáo là pháp nhân đại diện cho một cộng đồng người cùng chung một tôn giáo, có tôn chỉ, mục đích, đường hướng hành đạo, cơ cấu tổ chức, hiến chương, điều lệ được Nhà nước công nhận.
    2. Tổ chức cơ sở tôn giáo là đơn vị thuộc cơ cấu tổ chức của tổ chức tôn giáo, được thành lập theo hiến chương, điều lệ của tổ chức tôn giáo đã được Nhà nước công nhận".

    Điểm mới trong khái niệm về tổ chức tôn giáo lần này ngoài việc đưa ra hai khái niệm tổ chức tôn giáo và tổ chức cơ sở tôn giáo nhằm tách các hình thức tổ chức của tôn giáo làm hai loại giúp việc xây dựng chế định cho tổ chức tôn giáo nhằm khắc phục được những khó khăn nêu trên. Đồng thời quy định các tổ chức tôn giáo (chỉ hình thức tổ chức tôn giáo loại 1) có tư cách pháp nhân. Điều này đã được thử nghiệm trong thực tiễn với Quyết định số 83/BT ngày 29/12/1994 của Tổng thư ký Hội đồng Bộ trưởng về việc cho phép thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam, các quyết định của Trưởng ban Ban Tôn giáo của Chính phủ về việc công nhận tư cách pháp nhân cho các giáo hội, hội thánh đạo Cao đài (Quyết định số 51/QĐ-TGCP ngày 29/7/1995 về việc công nhận tư cách pháp nhân của Hội thánh Cao đài Tiên Thiên, Quyết định số 4039/QĐ-TGCP ngày 2/8/1996 về việc công nhận tư cách pháp nhân của Hội thánh Cao đài Minh Chân đạo Hậu Giang, Quyết định số 10/QĐ-TGCP ngày 9/5/1997 về việc công nhận tư cách pháp nhân tổ chức Giáo hội Đại đạo Tam kỳ phổ độ Tây Ninh ...). Mặt khác việc quy định tổ chức tôn giáo có tư cách pháp nhân còn có lợi cho các nhà quản lý vì lúc đó các tổ chức tôn giáo phải tuân thủ các quy định của pháp luật đối với các pháp nhân, các nhà quản lý có thể viện dẫn các quy định pháp luật có liên quan yêu cầu các tổ chức tôn giáo tuân thủ đầy đủ các nghĩa vụ của pháp nhân, ví dụ như trong Bộ Luật Dân sự 1995 có rất nhiều các quy định về pháp nhân, đặc biệt là trong Chương III Pháp nhân từ Điều 94 đến Điều 115 quy định về việc thành lập, quyền nghĩa vụ của pháp nhân, các loại pháp nhân.

    Tuy nhiên, cũng có một số điều chúng tôi còn băn khoăn rằng việc quy định các tổ chức tôn giáo có tư cách pháp nhân thì điều này cũng có nghĩa rằng các tổ chức tôn giáo có đầy đủ các quyền mà các pháp nhân có (trước đây chúng ta bó hẹp các quyền của tổ chức tôn giáo). Song chúng ta cũng nên lưu ý nhận thức mới rất cơ bản của Đảng ta về tổ chức tôn giáo được thể hiện trong Nghị quyết 25-NQ/TW như sau: "Các tổ chức tôn giáo được Nhà nước thừa nhận được hoạt động theo pháp luật và được pháp luật bảo hộ, được hoạt động tôn giáo, mở trường đào tạo chức sắc, nhà tu hành, xuất bản kinh sách và giữ gìn, sửa chữa, xây dựng cơ sở thờ tự tôn giáo của mình theo đúng quy định của pháp luật". Vì vậy việc công nhận tư cách pháp nhân đầy đủ cho một tổ chức tôn giáo khi được công nhận là một tất yếu khách quan phù hợp với quy định của pháp luật dân sự hiện nay.

    Riêng đối với khái niệm "tổ chức cơ sở tôn giáo" (nhóm 2) như đã trình bày ở trên, sau khi đưa ra dự thảo, cũng có những ý kiến khác nhau: nếu gọi là tổ chức cơ sở tôn giáo thì chỉ được hiểu là tổ chức thấp nhất của hệ thống cơ cấu tổ chức của một tôn giáo (tương tự như chính quyền cơ sở được hiểu là cấp phường, xã, thôn, ấp, làng, bản), còn các cấp "trung gian" khác như: Ban Trị sự tỉnh, thành hội Phật giáo; giáo phận, giáo hạt Công giáo hoặc các tổ chức tương đương của các tôn giáo khác đương nhiên không thể hiểu là "cấp" cơ sở của tổ chức tôn giáo. Nhưng chính "cấp trung gian" này lại rất cần được quản lý trong công tác tôn giáo. Vậy nên hiểu như thế nào ? Từ đó xin được trình phương án 2:

    Thay đổi cụm từ "tổ chức cơ sở tôn giáo" bằng cụm từ "tổ chức tôn giáo trực thuộc". Từ đó có khái niệm mới như sau:

    "2. Tổ chức tôn giáo trực thuộc là đơn vị thuộc cơ cấu tổ chức của tổ chức tôn giáo, được thành lập theo hiến chương hoặc điều lệ của tổ chức tôn giáo đó đã được Nhà nước công nhận".

    Như vậy xin được trình cả hai phương án để xin ý kiến các đồng chí.

    c. Vấn đề công nhận tổ chức tôn giáo.

    Với tinh thần công nhận tổ chức tôn giáo có tư cách pháp nhân, đồng thời chúng ta phân cấp việc công nhận tổ chức tôn giáo. Không nhất thiết bất cứ tổ chức tôn giáo nào cũng do Thủ tướng Chính phủ công nhận, chỉ những tổ chức tôn giáo có phạm vi hoạt động rộng lớn, nhiều tín đồ, có ảnh hưởng lớn đến đời sống tinh thần, xã hội của quần chúng nhân dân thì thẩm quyền ra quyết định công nhận thuộc Thủ tướng Chính phủ. Đối với những tổ chức tôn giáo phạm vi hoạt động trong một tỉnh hay một vài tỉnh nhưng tập trung chủ yếu ở một tỉnh thì phân cấp cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ra quyết định công nhận. Mục đích của việc này nhằm tăng cường phân cấp cho cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương để phù hợp với vị trí chức năng của tỉnh theo quy định về tổ chức của chúng ta hiện nay. Cũng cần lưu ý rằng cấp có thẩm quyền công nhận pháp nhân cũng chính là cấp ra quyết định chấm dứt hoặc giải thể pháp nhân nếu có vi phạm pháp luật nghiêm trọng. Với tinh thần đó, chúng tôi xin kiến nghị:

    "Điều 15.

    1. Điều kiện xem xét công nhận tổ chức tôn giáo gồm:
      a) Có Hiến chương hoặc Điều lệ phù hợp với pháp luật;
      b) Danh sách dự kiến nhân sự lãnh đạo tổ chức tôn giáo đó được Trưởng ban Ban Tôn giáo của Chính phủ hoặc Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định.
    2. Tùy theo phạm vi hoạt động, số lượng tín đồ, và mức độ ảnh hưởng của tổ chức tôn giáo, việc công nhận tổ chức tôn giáo do Thủ tướng Chính phủ hoặc Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định.
    3. Trình tự, thủ tục công nhận giáo hội của một tôn giáo do Chính phủ quy định".

    4. Vấn đề hạn chế việc truyền đạo trái phép và cấp giấy chứng nhận nhà tu hành, chức sắc tôn giáo.

    Nhằm tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực tôn giáo, đưa việc quản lý đi vào hệ thống một cách quy củ, đồng bộ, thống nhất trong đó chú trọng việc quản lý con người, đồng thời đưa ra những biện pháp hạn chế truyền đạo trái phép một cách có hiệu quả. Dự thảo Pháp lệnh về Tôn giáo lần này dự kiến quy định các nhà tu hành, chức sắc tôn giáo sẽ bắt buộc phải có "giấy chứng nhận nhà tu hành, chức sắc tôn giáo". Trong giấy chứng nhận này sẽ có đầy đủ các mục về lý lịch cá nhân đồng thời còn quy định phạm vi hoạt động tôn giáo của cá nhân đó (về không gian, thời gian ....) và hoạt động truyền đạo cũng chỉ là một trong những hoạt động tôn giáo do vậy sẽ phải nằm trong phạm vi giấy tờ được cấp.

    Với tinh thần đó chúng tôi dự thảo quy định như sau:

    "Điều 13. Nhà tu hành, chức sắc có quyền và nghĩa vụ sau đây:
    1. Nhà tu hành, chức sắc có quyền:
    b. Được cấp giấy chứng nhận nhà tu hành, chức sắc tôn giáo theo quy định của từng tổ chức tôn giáo để thực hiện hoạt động tôn giáo;"
    "Điều 30. Giấy chứng nhận nhà tu hành, chức sắc tôn giáo do tổ chức tôn giáo cấp và được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấp thuận.
    Trình tự, thủ tục và thẩm quyền cấp giấy chứng nhận nhà tu hành, chức sắc tôn giáo của tổ chức tôn giáo do Chính phủ quy định.
    "Điều 31.
    2. Các hành vi truyền bá giáo lý của những người không thuộc tổ chức tôn giáo được Nhà nước thừa nhận hoặc những người thuộc tổ chức tôn giáo được Nhà nước thừa nhận song truyền bá giáo lý ngoài phạm vi được quy định tại giấy chứng nhận nhà tu hành, chức sắc tôn giáo, hoặc dùng các cách thức lừa bịp mua chuộc, dụ dỗ, ép buộc hoặc các hình thức khác để lôi kéo người theo đạo trái với tính tự nguyện theo hoặc không theo tôn giáo của công dân đều vi phạm pháp luật và bị xử lý."

    Và các giấy chứng nhận nhà tu hành, chức sắc tôn giáo này thì do tổ chức tôn giáo cấp, song trình tự, thủ tục, điều kiện để được cấp giấy chứng nhận Chính phủ sẽ hướng dẫn cụ thể và điều quan trọng là các giấy chứng nhận này chỉ có giá trị khi có chứng thực (ký tên xác nhận, đóng dấu) của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền. Các giấy chứng nhận không có chứng thực sẽ không có giá trị, việc lưu hành sẽ bị xem là trái phép và tùy vào mức độ vi phạm sẽ bị xử lý hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự. Ngoài ra, thông qua việc ban hành giấy chứng nhận chức sắc, nhà tu hành tôn giáo, chúng ta còn có thể xử lý các trường hợp mạo danh chức sắc, nhà tu hành tôn giáo, các trường hợp "phong chui", "tu chui", những trường hợp chưa đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận nhưng vẫn thực hiện hoạt động truyền đạo.

    Hiện nay, theo con số thống kê của Ban Tôn giáo của Chính phủ đến năm 2001, tổng số chức sắc, nhà tu hành tôn giáo ở Việt Nam có 56.152 người. Nếu quy định về việc cấp giấy chứng nhận về chức sắc, nhà tu hành được phê duyệt thì dự kiến việc cấp giấy này sẽ thực hiện mất khoảng 6 tháng cho các chức sắc, nhà tu hành hiện đang hoạt động và đã được nhà nước công nhận; đây cũng là thời gian chúng ta tiến hành việc tuyên truyền, phổ biến Pháp lệnh đến các đối tượng và dự kiến Pháp lệnh có hiệu lực sau 6 tháng kể từ ngày công bố.

    Đây mới chỉ thể hiện tinh thần chung được quy định tại Pháp lệnh, còn cụ thể, chi tiết như: trình tự, thủ tục, điều kiện cấp giấy chứng nhận hoạt động tôn giáo như thế nào, nội dung của giấy chứng nhận ra sao, việc xử lý các hoạt động truyền đạo bất hợp pháp, xử lý các hoạt động của các cá nhân không có giấy chứng nhận nhà tu hành, chức sắc tôn giáo hoặc có nhưng vượt ra ngoài phạm vi giấy chứng nhận, trong trường hợp nào thì thu hồi giấy chứng nhận cũng như các chế tài xử phạt ra sao thì sẽ được Nghị định hướng dẫn thi hành quy định cụ thể.

    5. Vấn đề về hội đoàn tôn giáo

    Tại kết luận của Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An ngày 25/9/2001 nêu rõ: "Quy định về vấn đề hội đoàn tôn giáo cần thận trọng hơn, phải chỉ rõ được những lợi dụng Hội đoàn này để chống và ngăn chặn nhưng không thể cấm các hoạt động hội đoàn tôn giáo được vì càng cấm càng kích động những hành vi không tốt".

    Tinh thần của Nghị quyết TW7 là kiên quyết không cho phép mượn hình thức tập hợp quần chúng dưới danh nghĩa tôn giáo để tổ chức các loại hội biến tướng hoặc trá hình. Cho phép các hình thức tập hợp để phục vụ lễ nghi hoặc học tập giáo lý, đạo đức tôn giáo đơn thuần tại nơi thờ tự. (Tinh thần trên sẽ không đưa ra công khai).

    Từ ý kiến chỉ đạo trên, định nghĩa về Hội đoàn tôn giáo được xây dựng tại Khoản 3 Điều 3:

    "3. Hội đoàn tôn giáo là hình thức tổ chức tập hợp tín đồ của các tôn giáo nhằm phục vụ sinh hoạt tôn giáo".

    Và Điều 16 quy định đối với hội đoàn như sau:

    "Điều 16.
    1. Các hội đoàn tôn giáo để phục vụ lễ nghi, học tập giáo lý, đạo đức tôn giáo được thực hiện tại cơ sở tôn giáo; người có trách nhiệm phải đăng ký về tổ chức với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.
    2. Việc thành lập hội đoàn không thuộc quy định tại Khoản 1 Điều này thực hiện theo pháp luật về lập hội."

    Với quy định trên, Pháp lệnh về Tôn giáo chỉ điều chỉnh và cho phép các hội đoàn tôn giáo phục vụ lễ nghi, học tập giáo lý đạo đức tôn giáo như: hội kèn, hội trống, hội con hoa ... được thực hiện tại cơ sở tôn giáo mà không phải xin phép cơ quan nhà nước. Song người có trách nhiệm phải đăng ký về tổ chức như: người lãnh đạo hội đoàn, chương trình hoạt động với cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Còn đối với những loại hội đoàn phức tạp, có cơ cấu tổ chức, có quy mô mang tính tranh thủ quần chúng, tín đồ thì Pháp lệnh về Tôn giáo không điều chỉnh, vấn đề này được dẫn chiếu áp dụng các quy định của pháp luật về lập hội.

    6. Vấn đề về đất đai, nhà, tài sản của tôn giáo.

    Nghị quyết 25-NQ/TW "đối với đất đai, thực hiện theo quy định của pháp luật hiện hành. Đối với việc khiếu kiện có liên quan đến nhà và cơ sở tôn giáo đã chuyển giao cho chính quyền hoặc đoàn thể sử dụng: về nguyên tắc, xử lý theo quy định của pháp luật hiện hành; riêng đối với những trường hợp nhà đất do tôn giáo đã hiến, tặng có văn bản xác nhận thì không đặt thành vấn đề trả lại".

    Nghị quyết 26-NQ/TW "giao đất cho các cơ sở tôn giáo hoạt động hợp pháp trên cơ sở đất đang sử dụng. Nghiên cứu đầy đủ hướng giải quyết đất cho các cơ sở tôn giáo phù hợp với nguyện vọng chính đáng và hợp pháp của nhân dân".

    Luật Đất đai (sửa đổi) dự kiến trình kỳ họp Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 3 (tháng 5/2003) có dự kiến thể chế như sau:

    Thay Điều 51 bằng Điều 96 mới:

    Điều 51. "Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương căn cứ vào chính sách tôn giáo của Nhà nước, quỹ đất đai của địa phương, quyết định diện tích đất giao cho nhà chùa, nhà thờ, thánh thất tôn giáo trên cơ sở đất đai mà nhà chùa, nhà thờ, thánh thất tôn giáo đang sử dụng".
    Điều 96 (mới). "Đất do các cơ sở tôn giáo đang sử dụng.
    Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương căn cứ vào chính sách tôn giáo của Nhà nước, quỹ đất đai của địa phương, quyết định diện tích đất giao cho cơ sở tôn giáo".

    Trên cơ sở đó, chúng tôi dự kiến sẽ quy định vấn đề này tại Điều 25 Pháp lệnh về Tôn giáo như sau:

    "Điều 25.

    1. Căn cứ vào chính sách tôn giáo của Nhà nước, quỹ đất đai của địa phương và nguyện vọng của đồng bào tôn giáo, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương giao đất cho các cơ sở tôn giáo sử dụng ổn định, lâu dài.
    2. Cơ sở tôn giáo được giao đất không phải nộp tiền sử dụng đất và có trách nhiệm sử dụng đất đúng với mục đích được giao, không được chuyển nhượng, chuyển đổi, cho thuê, thừa kế quyền sử dụng đất, không được thế chấp, góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất, không được nhận quyền sử dụng đất.
    3. Nhà nước không thừa nhận việc đòi lại nhà, tài sản của tôn giáo đã hiến, tặng cho cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị-xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân quản lý, sử dụng.
    4. Nhà, tài sản khác của tôn giáo giao cho cơ quan, tổ chức quản lý, sử dụng không thuộc trường hợp quy định tại Khoản 3 Điều này được giải quyết theo quy định của pháp luật hiện hành."

    Ngoài ra, trong Dự thảo còn những điểm, mục sửa chữa nhỏ không làm thay đổi nội dung cơ bản của quy định hoặc thay đổi trật tự các điều hoặc sửa chữa, thay đổi câu chữ.

    Trên đây là 6 vấn đề chủ chốt trong lần tu chỉnh Dự thảo Pháp lệnh về Tôn giáo lần này, chúng tôi xin báo cáo với các đồng chí và kính mong các đồng chí cho ý kiến để tiếp tục tu chỉnh, hoàn thiện Dự thảo./.

    Ban Tôn giáo của Chính phủ

    ++++++++++++++++++++++++++++++

    CHÍNH PHỦ
    Số: /2003/NĐ-CP
    Dự thảo 4

    CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
    Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

    Hà Nội, ngày ... tháng ... năm 2003

    NGHỊ ĐỊNH CỦA CHÍNH PHỦ
    Quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh về Tôn giáo.

    Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2002;
    Căn cứ Pháp lệnh về Tôn giáo ngày..... tháng..... năm 2003;
    Theo đề nghị của Trưởng ban Ban Tôn giáo của Chính phủ.

    NGHỊ ĐỊNH

    Chương I
    NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

    Điều 1. Trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, các tổ chức, cá nhân thực hiện Pháp lệnh về Tôn giáo.

    Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân. Mọi cơ quan, tổ chức và cá nhân có trách nhiệm thực hiện nghiêm chỉnh các quy định của Pháp lệnh về Tôn giáo và các quy định của Nghị định này.

    Điều 2. Phạm vi điều chỉnh.

    Nghị định này quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh về Tôn giáo bao gồm: công nhận tổ chức tôn giáo; đăng ký hội đoàn, dòng tu, người vào tu tại cơ sở tu hành; trường, lớp đào tạo các chức sắc, nhà tu hành; in, xuất bản, phát hành các loại kinh sách và các xuất bản phẩm tôn giáo, kinh doanh, xuất nhập khẩu văn hóa phẩm tôn giáo, sản xuất đồ dùng việc đạo, tu bổ, sửa chữa, xây dựng cơ sở tôn giáo; đăng ký, xin phép tổ chức các hoạt động tôn giáo; phong chức, phong phẩm, phục hồi chức vụ, bổ nhiệm, thuyên chuyển chức việc, nhà tu hành, chức sắc tôn giáo; sinh hoạt tôn giáo của người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam, cấp giấy ch»©ng nhận hoạt động tôn giáo, hoạt động tôn giáo bị đình chỉ.

    Chương II
    VỀ HOẠT ĐỘNG TÔN GIÁO

    MỤC I. CÔNG NHẬN TỔ CHỨC TÔN GIÁO

    Điều 3. Trình tự, thủ tục công nhận tổ chức tôn giáo hoạt động trong phạm vi nhiều tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

    1. Thành lập Ban vận động.

    a. Xuất phát từ nguyện vọng của quần chúng tín đồ và yêu cầu của thực tế, những người được tín đồ cử ra có đơn đề nghị Ban Tôn giáo Chính phủ cho phép thành lập Ban vận động (kèm theo danh sách đề cử thành viên của Ban vận động và Quy chế hoạt động của Ban vận động). Số lượng thành viên Ban vận động từ 9 đến 13 người.

    b. Điều kiện để được đề cử làm thành viên Ban vận động.

    2. Trách nhiệm của Ban vận động:

    a. Xây dựng và thực hiện chương trình hoạt động của Ban vận động;
    b. Dự kiến tên gọi của tổ chức tôn giáo;
    c. Dự kiến danh sách nhân sự lãnh đạo của tổ chức tôn giáo;
    d. Dự thảo Hiến chương hoặc Điều lệ gồm các nội dung sau:

    • Mục đích, tôn chỉ, đường hướng hoạt động;
    • Tín lý, giáo lý, giáo luật, giáo lễ cơ bản;
    • Hệ thống tổ chức; quyền, nghĩa vụ, quy chế hoạt động của các cơ quan thuộc hệ thống tổ chức đó;
    • Cách thức tấn phong, phong phẩm, phong chức, bổ nhiệm, thuyên chuyển, ngưng chức, cách chức hoặc các cách thức tương tự đối với các hàng giáo phẩm và các chức sắc;
    • Tài sản, tài chính của tổ chức tôn giáo.

    3. Sau khi dự kiến nhân sự lãnh đạo tổ chức tôn giáo và dự thảo Hiến chương hoặc Điều lệ đã được Ban Tôn giáo Chính phủ chấp thuận, Ban vận động tổ chức Đại hội thành lập tổ chức tôn giáo.

    4. Căn cứ vào kết quả Đại hội thành lập tổ chức tôn giáo và đề nghị của Trưởng ban Tôn giáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ra quyết định công nhận tổ chức tôn giáo và thông qua Hiến chương hoặc Điều lệ của tổ chức tôn giáo.

    Điều 4. Tổ chức cơ sở tôn giáo hoạt động trong phạm vi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.

    Tổ chức cơ sở tôn giáo hoạt động trong phạm vi tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, trình tự thủ tục công nhận theo quy định tại Điều 3 Nghị định này. Việc thành lập Ban vận động do Ban Tôn giáo tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (cấp tỉnh) cho phép. Thẩm quyền ra quyết định công nhận tổ chức cơ sở tôn giáo do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định.

    MỤC II. ĐĂNG KÝ HỘI ĐOÀN TÔN GIÁO; ĐĂNG KÝ DÒNG TU HOẶC CÁC TỔ CHỨC TU HÀNH TẬP THỂ; NGƯỜI VÀO TU TẠI CƠ SỞ TU HÀNH.

    Điều 5. Đăng ký hội đoàn tôn giáo.

    1. Thủ tục, nội dung đăng ký đối với hội đoàn tôn giáo để phục vụ lễ nghi, học tập giáo lý, đạo đức tôn giáo.

    Tổ chức tôn giáo, tổ chức cơ sở tôn giáo trước khi thành lập hội đoàn tôn giáo phải đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về các nội dung sau:

    Tên hội đoàn tôn giáo; người đứng đầu hội đoàn; nội dung hoạt động; phạm vi hoạt động.

    Hội đoàn tôn giáo khi đăng ký phải hoạt động đúng những nội dung đã đăng ký. Trường hợp có thay đổi nội dung đăng ký phải làm thủ tục đăng ký lại với cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

    2. Thẩm quyền xem xét đăng ký.

    a. Hội đoàn tôn giáo hoạt động trong phạm vi xã, phường, thị trấn (cấp xã) đăng ký với Ủy ban nhân dân cấp xã nơi hội đoàn hoạt động.

    b. Hội đoàn tôn giáo hoạt động trong phạm vi huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh (cấp huyện), đăng ký hoạt động với Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi hội đoàn hoạt động.

    Các hội đoàn chưa đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì không được hoạt động.

    3. Việc thành lập các hội đoàn tôn giáo không vì mục đích phục vụ lễ nghi, sinh hoạt tôn giáo thực hiện theo quy định của pháp luật về lập hội.

    Điều 6. Thủ tục, nội dung đăng ký dòng tu hoặc các tổ chức tu hành tập thể.

    1. Các dòng tu, hoặc các tổ chức tu hành tập thể hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam phải đăng ký hoạt động với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.

    2. Người đứng đầu dòng tu hoặc các tổ chức tu hành tập thể có hồ sơ gửi cơ quan nhà nước có thẩm quyền (quy định tại Điều 7 Nghị định này). Hồ sơ gồm có:

    a. Văn bản đăng ký dòng tu hoặc các tổ chức tu hành tập thể cần ghi rõ:

    • Họ tên, phẩm trật, chức vụ tôn giáo của người đề nghị;
    • Tên dòng tu hoặc các tổ chức tu hành tập thể;
    • Trụ sở hoặc nơi làm việc chính;
    • Cam kết và chịu trách nhiệm trước pháp luật về hoạt động của tổ chức mình.

    b. Danh sách tu sĩ kèm theo lý lịch tự thuật và ảnh.

    c. Nội quy, Quy chế hoặc Điều lệ hoạt động, trong đó nêu rõ:

    • Tôn chỉ, mục đích hoạt động;
    • Hệ thống tổ chức và quản lý;
    • Hoạt động xã hội;
    • Cơ sở vật chất bao gồm tài sản, tài chính;
    • Quan hệ xã hội;
    • Quan hệ quốc tế (nếu có).

    Điều 7. Thẩm quyền đăng ký dòng tu hoặc các tổ chức tu hành tập thể.

    1. Thẩm quyền cấp giấy đăng ký

    a. Dòng tu, hoặc các tổ chức tu hành tập thể hoạt động trong phạm vi nhiều tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, người đứng đầu phải đăng ký hoạt động với Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi hoạt động.
    b. Dòng tu, hoặc các tổ chức tu hành tập thể hoạt động trong phạm vi nhiều tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, người đứng đầu phải đăng ký hoạt động với Trưởng ban Tôn giáo Chính phủ.

    2. Thời hạn cấp giấy đăng ký.

    Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét và cấp giấy chứng nhận đăng ký; trường hợp không cấp giấy đăng ký phải trả lời bằng văn bản.

    Điều 8. Việc bầu bề trên dòng.

    Việc bầu bề trên dòng có liên quan đến nhiều tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương phải được sự chấp thuận của Trưởng ban Tôn giáo Chính phủ. Trường hợp bầu bề trên dòng trong phạm vi một tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương phải được sự chấp thuận của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

    Người đứng đầu dòng tu, hoặc các tổ chức tu hành tập thể chịu trách nhiệm trước pháp luật về mọi hoạt động của tổ chức mình.

    Điều 9. Người vào tu tại cơ sở tu hành

    Công dân có quyền vào tu tại cơ sở tu hành trên cơ sở tự nguyện, không ai được ép buộc.

    1. Trước khi vào tu tại cơ sở tu hành, người vào tu phải có văn bản gửi Ủy ban nhân dân cấp xã nơi thường trú thông báo về việc đi tu. Người vào tu dưới 16 tuổi phải có văn bản chấp thuận của cha, mẹ hoặc người giám hộ hợp pháp gửi Ủy ban nhân dân cấp xã thể hiện sự đồng ý cho người mà mình giám hộ vào tu.

    a. Nội dung văn bản phải nêu rõ:

    • Họ tên, tuổi, địa chỉ thường trú, cơ sở tu hành dự định vào tu;
    • Lý do vào tu;
    • Sự hiểu biết về tôn giáo mình chọn;
    • Cam kết việc vào tu là tự nguyện, không nhằm trốn tránh pháp luật và các nghĩa vụ công dân.

    b. Được người đứng đầu cơ sở tu hành chấp thuận.

    c. Khi được vào tu tại cơ sở tu hành, người vào tu phải làm thủ tục đăng ký hộ khẩu.

    2. Tín đồ tu học:

    Đối với tín đồ tu học, thủ tục quy định như Khoản 1 Điều này và phải được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi thường trú xác nhận là người gương mẫu thực hiện nghĩa vụ công dân.

    MỤC III. TRƯỜNG, LỚP ĐÀO TẠO CHỨC SẮC, NHÀ TU HÀNH.

    Điều 10. Thủ tục thành lập trường đào tạo chức sắc, nhà tu hành.

    Tổ chức tôn giáo có nhu cầu mở trường để đào tạo, bồi dưỡng nhà tu hành, chức sắc cần làm các thủ tục sau:

    Hồ sơ xin thành lập trường, gồm:

    a. Đơn xin thành lập trường;

    b. Đề án thành lập trường gồm:

    • Nhu cầu mở trường;
    • Chức năng, nhiệm vụ của trường;
    • Mục tiêu, quy mô chương trình đào tạo của nhà trường;
      • Cấp học;
      • Số lượng;
      • Nội dung đào tạo;
      • Chương trình đào tạo;
    • Quy chế hoạt động tạm thời của trường:
      • Tên trường;
      • Mục đích, tôn chỉ của trường;
      • Địa điểm của trường;
      • Tổ chức và hoạt động của trường: trách nhiệm, quyền hạn của ban điều hành, ban giảng huấn;
      • Chương trình đào tạo: nội dung đào tạo, cấp học và văn bằng, số lượng, tiêu chuẩn tuyển sinh, trách nhiệm quyền lợi của người học, tiêu chuẩn tốt nghiệp;
      • Quản lý tài chính: các nguồn thu, các khoản chi;
      • Quan hệ của trường và xã hội.
    • Tờ trình về dự kiến nhân sự (ban điều hành, ban giảng huấn) kèm lý lịch tự thuật. Đối với ban giảng huấn còn kèm theo môn giảng;
    • Tư cách pháp lý, khả năng tài chính và điều kiện về cơ sở vật chất của tổ chức tôn giáo xin thành lập trường;
    • Khả năng và kế hoạch về đội ngũ quản lý, giảng viên;
    • Cơ sở vật chất: văn phòng, phòng học, thư viện, cư xá;
    • Khả năng về đất xây dựng trường.

    c. Văn bản của cơ quan có thẩm quyền xác nhận về khả năng tài chính và điều kiện về cơ sở vật chất kỹ thuật của tổ chức tôn giáo xin thành lập trường; hồ sơ xác nhận quyền sử dụng đất hoặc văn bản thỏa thuận của cơ quan có thẩm quyền về việc giao đất xây dựng trường.

    d. Sơ yếu lý lịch của người dự kiến sẽ làm Giám đốc, Viện trưởng, Hiệu trưởng; danh sách giảng viên, nhân viên.

    Điều 11. Thủ tục xin mở lớp đào tạo, bồi dưỡng chức việc, nhà tu hành, chức sắc tôn giáo.

    Tổ chức tôn giáo, tổ chức cơ sở tôn giáo có nhu cầu mở các lớp đào tạo, bồi dưỡng chức việc, nhà tu hành, chức sắc tôn giáo ngắn hạn cần làm các thủ tục sau:

    Hồ sơ xin mở lớp, gồm:

    a. Đơn xin mở lớp;
    b. Chương trình đào tạo, bồi dưỡng gồm: đối tượng, số lượng, nội dung, trách nhiệm, quyền lợi của người học, điều kiện cấp chứng chỉ;
    c. Quy chế tạm thời của lớp: tên lớp; mục đích, tôn chỉ của lớp; địa điểm mở lớp; tổ chức và hoạt động của lớp; trách nhiệm, quyền hạn của ban điều hành, ban giảng huấn; chương trình đào tạo;
    d. Cơ sở vật chất, địa điểm mở lớp.

    Điều 12. Thẩm quyền tiếp nhận và thẩm định hồ sơ xin thành lập trường, lớp được quy định như sau:

    1. Thẩm quyền.

    Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi mở lớp tiếp nhận hồ sơ, chủ trì và phối hợp với Sở Giáo dục và Đào tạo, các sở, ban, ngành có liên quan của tỉnh tổ chức thẩm định, trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, quyết định.

    Ban Tôn giáo Chính phủ tiếp nhận hồ sơ; chủ trì phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo, các bộ, ngành liên quan và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi đặt trường tổ chức thẩm định; xem xét, quyết định đối với việc thành lập trường cao đẳng Phật học, trường cơ bản Phật học, và các trường tương đương trong các tôn giáo khác; trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định đối với việc thành lập Học viện Phật giáo Việt Nam, Viện nghiên cứu Phật học, Đại chủng viện của Giáo hội Công giáo Việt Nam, Viện thánh kinh thần học của Hội thánh Tin lành Việt Nam và các trường đào tạo chức sắc, nhà tu hành tương đương của các tôn giáo.

    2. Thời hạn thẩm định:

    a. Đối với việc mở lớp đào tạo, bồi dưỡng chức việc, nhà tu hành, chức sắc tôn giáo, trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi mở lớp phải trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét; thông báo kết quả bằng văn bản cho tổ chức tôn giáo xin mở lớp.

    b. Đối với việc thành lập trường cao đẳng Phật học, trường cơ bản Phật học và các trường tương đương trong các tôn giáo khác: trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Ban Tôn giáo Chính phủ phải thông báo kết quả bằng văn bản cho tổ chức tôn giáo xin thành lập trường.

    c. Đối với việc thành lập các trường: Học viện Phật giáo Việt Nam, Viện nghiên cứu Phật học, Đại chủng viện, Viện thánh kinh thần học và các trường tương đương của các tôn giáo khác: trong thời hạn 120 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, Ban Tôn giáo chính phủ phải trình Thủ tướng Chính phủ xem xét; thông báo kết quả bằng văn bản cho tổ chức tôn giáo xin thành lập trường.

    Điều 13. Tổ chức hoạt động của các loại trường, lớp đào tạo, bồi dưỡng.

    1. Giám đốc, Viện trưởng, Hiệu trưởng, Trưởng ban tổ chức lớp chịu trách nhiệm trước pháp luật về mọi hoạt động của trường, lớp.

    2. Giáo viên có nhiệm vụ giáo dục, giảng dạy theo mục tiêu, nguyên lý, chương trình giáo dục; là người gương mẫu thực hiện nghĩa vụ công dân, chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật của Nhà nước và Điều lệ của trường; tôn trọng nhân cách và đối xử công bằng với người học.

    3. Người vào học các trường, lớp đào tạo, bồi dưỡng chức sắc, nhà tu hành là công dân Việt Nam, có tư cách đạo đức tốt, không vi phạm pháp luật, hoàn thành các nghĩa vụ công dân, lý lịch rõ ràng có xác nhận của chính quyền cấp xã.

    4. Chương trình đào tạo, bồi dưỡng chức sắc, nhà tu hành các trường, lớp tôn giáo có môn Giáo dục (giáo dục chính trị, pháp luật, lịch sử dân tộc) phải được coi là môn chính khóa và do giáo viên ngành Giáo dục và Đào tạo, trực tiếp giúp đỡ giảng dạy.

    Các trường, lớp đào tạo, bồi dưỡng chức sắc, nhà tu hành tôn giáo phải báo cáo kết quả học tập mỗi năm, mỗi khóa và chịu trách nhiệm thực hiện quy chế hoạt động trước Ban Tôn giáo Chính phủ.

    Ban Tôn giáo Chính phủ, các Bộ, ngành liên quan và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi có trường, lớp tôn giáo thường xuyên hướng dẫn, kiểm tra giúp tổ chức tôn giáo, tổ chức cơ sở tôn giáo có trường, lớp tôn giáo hoạt động đúng pháp luật.

    Cấm lợi dụng các hoạt động giáo dục để xuyên tạc chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước, chống lại Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, chia rẽ khối đoàn kết dân tộc, kích động bạo lực, tuyên truyền chiến tranh, phá hoại thuần phong mỹ tục, truyền bá mê tín, hủ tục.

    MỤC IV. IN, XUẤT BẢN, PHÁT HÀNH CÁC LOẠI KINH SÁCH VÀ CÁC XUẤT BẢN PHẨM TÔN GIÁO, KINH DOANH XUẤT NHẬP KHẨU VĂN HÓA PHẨM TÔN GIÁO, SẢN XUẤT ĐỒ DÙNG VIỆC ĐẠO; TU BỔ, SỬA CHỮA, XÂY DỰNG CƠ SỞ TÔN GIÁO.

    Điều 14. In, xuất bản, phát hành các loại kinh sách và các xuất bản phẩm tôn giáo, kinh doanh xuất nhập khẩu văn hóa phẩm tôn giáo, sản xuất đồ dùng việc đạo.

    1. Nhà nước cho phép các tổ chức tôn giáo, tổ chức cơ sở tôn giáo được in, xuất bản, phát hành các loại kinh sách và các xuất bản phẩm tôn giáo, kinh doanh xuất nhập khẩu văn hóa phẩm tôn giáo, sản xuất đồ dùng việc đạo.

    2. Trình tự, thủ tục in, xuất bản, phát hành các loại kinh, ấn phẩm tôn giáo.

    a. Các tổ chức tôn giáo, tổ chức cơ sở tôn giáo có nhu cầu in, xuất bản, phát hành các loại kinh, sách, văn hóa phẩm có nội dung tôn giáo phải đăng ký đề tài xuất bản với Nhà xuất bản Tôn giáo trực thuộc Ban Tôn giáo Chính phủ.

    b. Nội dung đăng ký gồm: tên đề tài, nội dung đề tài, ngày tháng phát hành, tên tác giả, số lượng in, khuôn khổ, số trang.

    c. Trong thời gian 30 ngày kể từ ngày nhận được đơn, Giám đốc Nhà xuất bản Tôn giáo có trách nhiệm giải quyết và trả lời bằng văn bản.

    Nghiêm cấm việc chuyển, nhượng giấy phép xuất bản dưới bất cứ hình thức nào.

    3. Trình tự, thủ tục về xuất, nhập khẩu văn hóa phẩm có nội dung tôn giáo hoặc liên quan đến tôn giáo và những đồ dùng trong việc đạo.

    a. Các tổ chức tôn giáo, tổ chức cơ sở tôn giáo và những người thuộc các tổ chức đó xuất văn hóa phẩm có nội dung tôn giáo hoặc liên quan đến tôn giáo và những hiện vật phục vụ cho công việc tôn giáo phải có văn bản xin phép Ban Tôn giáo Chính phủ (ở Trung ương) hoặc Ban Tôn giáo của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh (ở địa phương).

    • Văn bản xin phép gồm: Tên tổ chức hoặc người đứng ra xin phép; tên văn hóa phẩm, hiện vật cần xuất; tác giả; số lượng xuất; xuất đến nước nào.
    • Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được văn bản xin phép, Ban Tôn giáo Chính phủ (ở Trung ương) hoặc Ban Tôn giáo của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phải có văn bản trả lời, kể cả trường hợp không đồng ý phải nói rõ lý do. Chỉ khi có văn bản đồng ý, cơ quan văn hóa mới cấp giấy phép làm thủ tục hải quan.

    b. Các tổ chức tôn giáo, tổ chức cơ sở tôn giáo và những người thuộc các tổ chức đó, nhập văn hóa phẩm có nội dung tôn giáo hoặc liên quan đến tôn giáo và những hiện vật phục vụ cho công việc tôn giáo phải làm văn bản xin phép Ban Tôn giáo Chính phủ (ở Trung ương) hoặc Ban Tôn giáo của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh (ở địa phương).

    • Văn bản xin phép gồm: Tên tổ chức hoặc người đứng ra xin phép; tên văn hóa phẩm, hiện vật cần nhập; tác giả; nhà xuất bản; số lượng nhập; nhập từ nước nào.
    • Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được văn bản xin phép, Ban Tôn giáo Chính phủ (ở Trung ương) hoặc Ban Tôn giáo của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh (ở địa phương) phải có văn bản trả lời, kể cả trường hợp không đồng ý thì phải nói rõ lý do. Chỉ khi có văn bản đồng ý, cơ quan văn hóa mới cấp giấy phép làm thủ tục nhập khẩu.

    c. Những trường hợp xuất bản, kinh doanh, lưu hành, tàng trữ, xuất nhập khẩu văn hóa phẩm trái quy định của pháp luật thì tùy theo tính chất và mức độ vi phạm sẽ bị xử lý theo pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.

    Điều 15. Tu bổ, sửa chữa, xây dựng cơ sở tôn giáo.

    1. Bộ Văn hóa Thông tin, Bộ Xây dựng phối hợp với Ban Tôn giáo Chính phủ quy định, hướng dẫn thủ tục cấp giấy phép cho việc tu bổ, sửa chữa cơ sở tôn giáo là di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh.

    2. Đối với trường hợp cơ sở tôn giáo không phải là di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh.

    a. Tu bổ, sửa chữa nhỏ gồm những việc: trát vá, quét vôi, đảo ngói, lát nền, thay cửa và cải tạo sửa chữa, lắp đặt thiết bị đường ống trong nhà và trong khuôn viên, trang trí nội thất không ảnh hưởng đên kết cấu công trình các nhà lân cận và bộ mặt đường phố.

    Khi tu bổ, sửa chữa nhỏ cơ sở tôn giáo, người chủ trì cơ sở tôn giáo không phải xin phép (được miễn giấy phép xây dựng). Trước khi tu bổ, sửa chữa chỉ cần thông báo cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn sở tại.

    b. Việc sửa chữa lớn làm thay đổi cấu trúc, kiến trúc công trình tại cơ sở tôn giáo, việc khôi phục công trình bị hoang phế, bị hủy hoại do chiến tranh, thiên tai, rủi ro; việc tạo lập cơ sở tôn giáo, việc xây dựng các công trình tôn giáo (nhà, tượng, bia, đài, tháp, và các công trình phục vụ mục đích tôn giáo), người chủ trì cơ sở tôn giáo phải:

    Làm hồ sơ xin cấp giấy phép xây dựng gửi Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Thủ tục hành chính cấp giấy phép xây dựng theo quy định tại Thông tư liên tịch số 09/1999/TTLB-BXD-TCĐC ngày 10/12/1999 của Bộ Xây dựng và Tổng cục Địa chính hướng dẫn cấp giấy phép xây dựng.

    Hồ sơ xin cấp giấy phép gồm:

    • Đơn xin cấp giấy phép xây dựng (theo mẫu), do chủ đầu tư đứng tên;
    • Bản sao một trong những giấy tờ về quyền sử dụng đất, kèm theo trích lục bản đồ hoặc trích đo trên thực địa hoặc ranh giới lô đất;
    • Ý kiến thống nhất bằng văn bản của Ban Tôn giáo cấp có thẩm quyền;
    • Ba bộ hồ sơ thiết kế, mỗi bộ gồm:
      • Mặt bằng công trình trên lô đất tỷ lệ 1/200-1/500, kèm theo sơ đồ vị trí công trình.
      • Các mặt đứng và mặt cắt chủ yếu công trình tỷ lệ 1/100-1/200.
      • Bản vẽ mặt bằng móng tỷ lệ 1/100-1/200 và chi tiết cắt móng tỷ lệ 1/50, kèm theo sơ đồ hệ thống thoát nước mưa, xử lý nước thải, cấp nước, cấp điện tỷ lệ 1/100-1/200.

    3. Xử lý vi phạm.

    Người chủ trì cơ sở thờ tự có hành vi vi phạm các quy định của Nhà nước về quản lý xây dựng nếu chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự thì tùy theo mức độ vi phạm sẽ bị xử phạt theo pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.

    MỤC V. ĐĂNG KÝ, XIN PHÉP TỔ CHỨC CÁC HOẠT ĐỘNG TÔN GIÁO

    Điều 16. Đăng ký hoạt động tôn giáo hàng năm.

    Hàng năm, vào ngày 15 tháng 10, người có trách nhiệm tổ chức các hoạt động tôn giáo phải có văn bản đăng ký các hoạt động tôn giáo sẽ diễn ra vào năm sau với Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

    1. Nội dung đăng ký phải nêu rõ:

    Tên tổ chức, cá nhân đứng ra tổ chức hoạt động tôn giáo, dự kiến thành phần, số lượng người tham dự, nội dung hoạt động tôn giáo, thời gian tổ chức, địa điểm tổ chức và các điều kiện đảm bảo (nếu có).

    2. Thẩm quyền.

    Ủy ban nhân dân cấp tỉnh sau khi xem xét nội dung đăng ký hoạt động tôn giáo có trách nhiệm trả lời bằng văn bản cho người đăng ký trong vòng 30 ngày kể từ ngày nhận được văn bản đăng ký. Trường hợp không đồng ý với toàn bộ hay một phần nội dung văn bản đăng ký, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.

    3. Người có trách nhiệm tổ chức các hoạt động tôn giáo có trách nhiệm tổ chức các hoạt động tôn giáo theo quy định đã đăng ký và chịu trách nhiệm trong khi tổ chức các hoạt động đó. Trường hợp cần thay đổi nội dung đăng ký, phải báo cáo trước với Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ít nhất 15 ngày trước ngày dự định tổ chức.

    Điều 17. Việc cho phép tổ chức hội nghị bất thường, đại hội.

    Hội nghị bất thường, đại hội là hội nghị, đại hội diễn ra ngoài chương trình đã đăng ký hoạt động tôn giáo hàng năm.

    1. Thủ tục, nội dung xin phép.

    Người có trách nhiệm tổ chức hội nghị bất thường, đại hội phải làm văn bản xin phép cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Nội dung văn bản xin phép gồm: họ tên, chức vụ tôn giáo (nếu có); nội dung hội nghị, đại hội; địa điểm tổ chức; thời gian tổ chức; dự kiến thành phần tham dự.

    2. Thẩm quyền cho phép.

    a. Hội nghị bất thường, đại hội do tổ chức cơ sở tôn giáo cấp xã hoặc cấp huyện tổ chức, người có trách nhiệm tổ chức phải xin phép Ủy ban nhân dân cấp huyện.

    b. Hội nghị bất thường, đại hội do tổ chức cơ sở tôn giáo cấp tỉnh tổ chức, người có trách nhiệm tổ chức phải xin phép Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

    c. Hội nghị bất thường, đại hội do tổ chức tôn giáo tổ chức, người có trách nhiệm tổ chức phải xin phép Ban Tôn giáo Chính phủ.

    Trong vòng 7 ngày kể từ khi nhận được văn bản xin phép hợp lệ, cơ quan nhà nước có thẩm quyền có trách nhiệm trả lời bằng văn bản. Trường hợp không cho phép tổ chức hội nghị, đại hội phải nói rõ lý do.

    Điều 18. Việc tổ chức các cuộc lễ có quy mô lớn, các hoạt động tôn giáo ngoài cơ sở tôn giáo.

    1. Việc tổ chức các cuộc lễ có quy mô lớn, các hoạt động tôn giáo ngoài cơ sở tôn giáo có liên quan đến nhiều tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, người tổ chức phải có văn bản xin phép Ban Tôn giáo Chính phủ.

    Nội dung văn bản nêu rõ: họ, tên của người xin phép, phẩm trật, chức vụ tôn giáo, hoạt động tôn giáo cần tổ chức, mục đích tổ chức, thành phần tham gia, thời gian tổ chức, địa điểm tổ chức và các điều kiện đảm bảo.

    2. Việc tổ chức các hoạt động tôn giáo ngoài cơ sở tôn giáo nhưng trong phạm vi tỉnh, người tổ chức phải có văn bản xin phép cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

    a. Ủy ban nhân dân cấp xã cho phép các hoạt động tôn giáo diễn ra ngoài cơ sở tôn giáo nhưng trong phạm vi một xã, phường, thị trấn.

    b. Ủy ban nhân dân cấp huyện cho phép các hoạt động tôn giáo diễn ra ngoài cơ sở thờ tự tôn giáo nhưng có liên quan đến nhiều xã, phường, thị trấn trong cùng một quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh.

    c. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cho phép các hoạt động tôn giáo ngoài cơ sở tôn giáo nhưng có liên quan đến nhiều quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh trong cùng một tỉnh.

    d. Nội dung văn bản xin phép thực hiện theo quy định tại Khoản 1 Điều này.

    MỤC VI. PHONG CHỨC, PHONG PHẨM, PHỤC HỒI CHỨC VỤ, BỔ NHIỆM, THUYÊN CHUYỂN CHỨC VIỆC, NHÀ TU HÀNH, CHỨC SẮC TÔN GIÁO.

    Điều 19. Phong chức, phong phẩm, phục hồi chức vụ cho chức việc, nhà tu hành, chức sắc tôn giáo.

    1. Trình tự, thủ tục phong chức, phong phẩm, phục hồi chức vụ tôn giáo cho nhà tu hành, chức sắc tôn giáo quy định tại Khoản 1, Điều 29 Pháp lệnh về Tôn giáo.

    Tổ chức tôn giáo có hồ sơ gửi Ban Tôn giáo Chính phủ. Hồ sơ gồm:

    a. Văn bản đề nghị chấp thuận phong chức, phong phẩm, phục hồi chức vụ tôn giáo trong đó nêu rõ:

    • Họ tên, phẩm trật, chức vụ tôn giáo (nếu có) của người được đề nghị phong chức, phong phẩm, phục hồi chức vụ tôn giáo. Dự kiến phẩm trật, chức vụ sẽ được phong chức, bổ nhiệm, phục hồi;
    • Lý do phong phẩm, phong chức, phục hồi chức vụ tôn giáo.

    b. Lý lịch có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi cư trú của người được đề nghị phong phẩm, phong chức, phục hồi chức vụ tôn giáo.

    c. Tóm tắt quá trình hoạt động tôn giáo của người được đề nghị phong phẩm, phong chức, phục hồi chức vụ tôn giáo.

    2. Thời hạn xem xét hồ sơ:

    Trong vòng 30 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, Ban Tôn giáo Chính phủ có ý kiến bằng văn bản về các trường hợp được phong chức, phong phẩm, phục hồi chức vụ tôn giáo. Trường hợp không đồng ý với nhân sự nào trong đề nghị của tổ chức tôn giáo, phải nói rõ lý do.

    3. Trường hợp phong chức, phong phẩm, phục hồi chức vụ tôn giáo cho các trường hợp không thuộc quy định tại Khoản 1, Điều 29 Pháp lệnh về Tôn giáo thực hiện theo trình tự, thủ tục quy định tại điểm a, b và c Khoản 1, Điều này. Hồ sơ gửi về Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi chức việc, nhà tu hành, chức sắc tôn giáo cư trú. Trong vòng 30 ngày, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm trả lời bằng văn bản về các trường hợp được đề nghị. Trường hợp không chấp thuận với nhân sự nào trong văn bản phải nêu rõ lý do.

    Điều 20. Bổ nhiệm, thuyên chuyển nhà tu hành, chức sắc tôn giáo.

    Tổ chức tôn giáo có hồ sơ gửi Ủy ban nhân dân cấp tỉnh (nếu bổ nhiệm, thuyên chuyển ra ngoài phạm vi tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thì gởi Ủy ban Nhân dân cấp tỉnh nơi đến). Hồ sơ gồm:

    1. Văn bản đề nghị chấp thuận bổ nhiệm, thuyên chuyển nhà tu hành, chức sắc của tổ chức tôn giáo, trong đó nêu rõ:
      • Họ tên, phẩm trật, chức vụ tôn giáo của người được đề nghị bổ nhiệm, thuyên chuyển.
      • Lý do bổ nhiệm, thuyên chuyển.
    2. Lý lịch có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi cư trú của người được đề nghị bổ nhiệm, thuyên chuyển.
    3. Tóm tắt quá trình hoạt động của người được đề nghị bổ nhiệm, thuyên chuyển.
    4. Ủy ban nhân dân có thẩm quyền có trách nhiệm trả lời bằng văn bản trong vòng 30 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ. Trường hợp không chấp thuận với văn bản đề nghị phải nêu rõ lý do.

    Điều 21. Việc công nhận người do tổ chức tôn giáo, tổ chức cơ sở tôn giáo hoặc tín đồ bầu ra.

    1. Thẩm quyền công nhận.

    a. Người do tổ chức tôn giáo hoặc tín đồ bầu ra để hoạt động tôn giáo trong phạm vi địa bàn nhiều tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương do Ban Tôn giáo Chính phủ công nhận.

    b. Người do tổ chức cơ sở tôn giáo hoặc tín đồ bầu ra để hoạt động tôn giáo trong phạm vi địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh công nhận.

    c. Người do tổ chức cơ sở tôn giáo hoặc tín đồ bầu ra để hoạt động tôn giáo trong phạm vi địa bàn quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện công nhận.

    d. Người do tổ chức cơ sở tôn giáo hoặc tín đồ bầu ra để hoạt động tôn giáo trong phạm vi địa bàn xã, phường, thị trấn do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã công nhận.

    2. Thủ tục công nhận.

    Tổ chức tôn giáo, tổ chức cơ sở tôn giáo có hồ sơ gửi cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định tại Khoản 1, Điều này. Hồ sơ gồm có:

    a. Văn bản đề nghị công nhận trong đó có ghi rõ họ tên, phẩm trật, chức vụ tôn giáo của người được đề nghị công nhận;
    b. Lý lịch có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi người đó cư trú;
    c. Văn bản tóm tắt quá trình hoạt động tôn giáo của người đó;
    d. Lý do, căn cứ (biên bản cuộc bầu...) của việc đề nghị công nhận.

    Điều 22. Cấp giấy chứng nhận nhà tu hành, chức sắc tôn giáo.

    1. Giấy chứng nhận hoạt động tôn giáo là loại giấy xác nhận tính hợp pháp của chức việc, nhà tu hành, chức sắc trong hoạt động tôn giáo, do tổ chức tôn giáo cấp cho chức việc, nhà tu hành, chức sắc sau khi được bổ nhiệm, thuyên chuyển hoặc bầu cử hợp pháp theo quy định tại Khoản 3, Khoản 4, Điều 29 Pháp lệnh về Tôn giáo.

    2. Nội dung giấy chứng nhận hoạt động tôn giáo phải thể hiện những yêu cầu cơ bản sau:

    a. Họ tên, địa chỉ thường trú của người được cấp giấy chứng nhận;
    b. Chức vụ tôn giáo của người được cấp giấy chứng nhận;
    c. Phạm vi hoạt động tôn giáo của người được cấp giấy chứng nhận;
    d. Ngày, tháng, năm cấp giấy chứng nhận;
    đ. Có chữ ký, đóng dấu của tổ chức tôn giáo có thẩm quyền; chữ ký chứng thực của cơ quan quản lý nhà nước về tôn giáo cấp tương đương.

    3. Việc cấp giấy chứng nhận hoạt động tôn giáo cho chức việc, nhà tu hành, chức sắc tôn giáo quy định tại Khoản 1, Điều 29 Pháp lệnh về Tôn giáo do tổ chức tôn giáo cấp tương đương cấp. Trường hợp cấp giấy chứng nhận hoạt động tôn giáo cho chức việc, nhà tu hành, chức sắc không thuộc trường hợp quy định tại Khoản 1, Điều 29 Pháp lệnh về Tôn giáo do tổ chức cơ sở tôn giáo cấp tỉnh cấp.

    4. Người được cấp giấy chứng nhận hoạt động tôn giáo phải tuân thủ các quy định của pháp luật về hoạt động tôn giáo và chỉ được hoạt động tôn giáo trong phạm vi được cấp giấy chứng nhận. Trường hợp vi phạm pháp luật nhiều lần hoặc nghiêm trọng thì ngoài bị xử lý theo quy định của pháp luật còn bị thu hồi giấy chứng nhận hoạt động tôn giáo.

    Điều 23. Hoạt động tôn giáo bị đình chỉ, hành vi truyền đạo trái phép.

    1. Hoạt động tôn giáo bị đình chỉ trong trường hợp chống lại Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, kích động chia rẽ nhân dân, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, làm hại đến truyền thống văn hóa dân tộc, ảnh hưởng trật tự an toàn công cộng, ảnh hưởng sức khỏe cộng đồng, xâm phạm quyền tự do cơ bản của người khác hoặc hoạt động mê tín dị đoan, truyền đạo trái phép.

    a. Thẩm quyền ra quyết định đình chỉ hoạt động tôn giáo.

    - Thủ tướng Chính phủ ra quyết định đình chỉ hoạt động của các tổ chức tôn giáo, các cá nhân tôn giáo quy định tại Khoản 1, Điều 29 Pháp lệnh về Tôn giáo nếu có vi phạm pháp luật nghiêm trọng.

    - Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ra quyết định đình chỉ hoạt động của các tổ chức cơ sở tôn giáo, các cá nhân quy định tại Khoản 2, Điều 29 Pháp lệnh về Tôn giáo nếu có vi phạm pháp luật diễn ra trên địa bàn tỉnh.

    2. Các hành vi truyền bá giáo lý của những người không thuộc tổ chức tôn giáo được Nhà nước thừa nhận hoặc những người thuộc tổ chức tôn giáo được Nhà nước thừa nhận song truyền bá giáo lý ngoài phạm vi được quy định tại giấy chứng nhận nhà tu hành, chức sắc tôn giáo, hoặc dùng các cách thức lừa bịp mua chuộc, dụ dỗ, ép buộc hoặc các hình thức khác để lôi kéo người theo đạo trái với tính tự nguyện theo hoặc không theo tôn giáo của công dân đều vi phạm pháp luật và bị xử lý. Tùy theo tính chất, mức độ vi phạm bị xử lý theo pháp luật xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

    Chương III
    SINH HOẠT TÔN GIÁO CỦA NGƯỜI NƯỚC NGOÀI CƯ TRÚ TẠI VIỆT NAM

    Điều 24. Người nước ngoài đang cư trú tại Việt Nam.

    1. Các cá nhân có Quốc tịch nước ngoài, được phép nhập cảnh Việt Nam có thời hạn để sinh sống, làm việc, học tập và nghiên cứu khoa học trong các cơ quan, tổ chức, công ty nước ngoài được phép hoạt động tại Việt Nam và trong các cơ quan, tổ chức, công ty của Việt Nam có quan hệ với nước ngoài.

    2. Các cá nhân có Quốc tịch nước ngoài được phép nhập cảnh Việt Nam để thực hiện các chuyến thăm và làm việc theo lời mời của các cơ quan, tổ chức Việt Nam.

    3. Các cá nhân có Quốc tịch nước ngoài được phép nhập cảnh Việt Nam để thăm thân nhân, để du lịch Việt Nam theo chương trình do các công ty du lịch của Việt Nam thực hiện.

    Điều 25. Sinh hoạt tôn giáo cá nhân.

    1. Người nước ngoài đang cư trú hợp pháp tại Việt Nam (sau đây gọi là người nước ngoài ở Việt Nam) nếu có nhu cầu sinh hoạt tôn giáo cá nhân thì được chính quyền các cấp và các tổ chức tôn giáo hợp pháp của Việt Nam giúp đỡ để được sinh hoạt tôn giáo theo một trong các cách thức:

    a. Dự sinh hoạt chung với các tín đồ tôn giáo của Việt Nam.
    b. Tại một cơ sở thờ tự của tôn giáo tương ứng, hợp pháp và hiện có tại Việt Nam.
    c. Trong các sinh hoạt tôn giáo tại cơ sở thờ tự mà các tổ chức tôn giáo hợp pháp của Việt Nam đã đăng ký với chính quyền địa phương.

    Trong khi dự lễ chung với các tín đồ Việt Nam, người nước ngoài cần chấp hành các quy định về sinh hoạt tôn giáo của Việt Nam như các tín đồ.

    2. Người nước ngoài vào Việt Nam để thăm và làm việc theo lời mời của các cơ quan, tổ chức Việt Nam, hoặc du lịch theo chương trình du lịch do các Công ty du lịch của Việt Nam đảm nhiệm, hoặc thăm thân nhân, nếu có nhu cầu sinh hoạt tôn giáo cá nhân trong thời gian ở Việt Nam, có thể đến dự lễ chung với các tín đồ Việt Nam trong các sinh hoạt tôn giáo theo lịch của tổ chức cơ sở tôn giáo Việt Nam, tại các cơ sở thờ tự tương ứng và hợp pháp của Việt Nam và chấp hành các quy định của Việt Nam về sinh hoạt tôn giáo; không tổ chức thành nhóm để sinh hoạt tôn giáo riêng tại một cơ sở thờ tự tôn giáo của Việt Nam.

    3. Người nước ngoài ở Việt Nam có thể đề nghị chức sắc tôn giáo của Việt Nam giúp thực hiện một số nghi thức tôn giáo riêng đặc biệt cần thiết cho cá nhân nếu không trái pháp luật Việt Nam và truyền thống dân tộc Việt Nam, với sự đồng ý giúp đỡ của chức sắc tôn giáo Việt Nam và được cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền cấp tỉnh chấp thuận.

    Điều 26. Tập trung thành nhóm để sinh hoạt tôn giáo

    1. Người nước ngoài ở Việt Nam nếu có nhu cầu tập trung thành nhóm để sinh hoạt tôn giáo riêng tại một cơ sở thờ tự tôn giáo của Việt Nam cần liên hệ với Ban Tôn giáo của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và tổ chức tôn giáo hợp pháp của Việt Nam nơi cư trú để được hướng dẫn; có văn bản xin phép Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) nơi cư trú.

    a. Nội dung văn bản xin phép gồm:

    • Tên của người được cử làm trưởng nhóm, danh sách từng thành viên của nhóm, trong đó có ghi rõ tên, Quốc tịch, tôn giáo và sự chứng minh tư cách cư trú tại Việt Nam do cơ quan đại diện ngoại giao của nước mà người đó có Quốc tịch hoặc cơ quan chủ quản, cơ quan đối tác Việt Nam của người nước ngoài đó xác nhận.
    • Lịch sinh hoạt dự kiến, cơ sở thờ tự dự kiến sinh hoạt.

    b. Các văn bản nói trên được thể hiện bằng tiếng Anh và tiếng Việt, gửi Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi cư trú.

    2. Khi được Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cho phép, thực hiện đúng lịch sinh hoạt đã được phía Việt Nam chấp thuận, chấp hành các quy định về trật tự, an toàn nơi công cộng của chính quyền địa phương, bảo đảm chỉ sinh hoạt tôn giáo thuần túy, không dùng nơi thờ tự đó để tổ chức các sinh hoạt có nội dung khác.

    3. Tổ chức cơ sở tôn giáo hợp pháp của địa phương khi được đại diện của nhóm người nước ngoài đề nghị giúp đỡ có nơi sinh hoạt tôn giáo riêng, nếu thấy có thể sắp xếp được, cần có văn bản báo cáo xin phép Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Khi được Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đồng ý, chức sắc phụ trách nơi thờ tự và tổ chức cơ sở tôn giáo tại địa phương có trách nhiệm tổ chức việc sinh hoạt tôn giáo của người nước ngoài được thuận tiện, đúng lịch, đúng pháp luật.

    4. Không đặt vấn đề cho người nước ngoài thuê nơi thờ tự để sinh hoạt tôn giáo và xây dựng cơ sở thờ tự riêng tại Việt Nam.

    5. Trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ xin phép sinh hoạt tôn giáo riêng của nhóm người nước ngoài, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có văn bản trả lời, kể cả trong trường hợp địa phương không có điều kiện đáp ứng đề nghị của nhóm người nước ngoài.

    Điều 27. Chức sắc tôn giáo là người nước ngoài.

    Không giải quyết việc đưa chức sắc người nước ngoài vào Việt Nam để giảng đạo cho tín đồ là người nước ngoài đang cư trú hợp pháp tại Việt Nam.

    Trường hợp nhóm người nước ngoài cần có chức sắc tôn giáo để thực hiện một số nghi thức tôn giáo hoặc giảng đạo, đại diện nhóm người nước ngoài đó có thể đề nghị với tổ chức cơ sở tôn giáo tương ứng, hợp pháp, hiện có của Việt Nam giúp cử chức sắc tôn giáo thích hợp thực hiện công việc đó. Nếu thấy đáp ứng được, tổ chức cơ sở tôn giáo cần báo cáo Ban Tôn giáo của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi cư trú và Ủy ban nhân dân sở tại biết họ, tên của chức sắc Việt Nam được cử đến giúp người nước ngoài sinh hoạt tôn giáo.

    Chương IV
    ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

    Điều 28. Hiệu lực thi hành.

    Nghị định này có hiệu lực từ ngày..... tháng...... năm..... bãi bỏ Nghị định số 26/CP ngày 19 tháng 4 năm 1999 của Chính phủ về các hoạt động tôn giáo.

    Điều 29. Hướng dẫn thi hành.

    Ban Tôn giáo Chính phủ phối hợp cùng các Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các cơ quan chức năng có liên quan hướng dẫn chi tiết thi hành Nghị định này.

    Hà Nội, ngày ... tháng ... năm 2003

    TM. CHÍNH PHỦ
    THỦ TƯỚNG


    Vụ Án Công Giáo