Vụ Án Công Giáo |
Đấu tranh cho tự do tôn giáo tại Giáo phận Huế
Bản tin ngày 09-07-2003
Hôm 7-7 mới rồi, bà Nguyễn Thị Hiểu và người cháu ruột là Nguyễn Văn Thám lại lặn lội đến trại Ba Sao thăm vị tù nhân lương tâm Nguyễn Văn Lý. Cả hai vào cổng lúc 7g30 sáng, đúng 10g thì được gặp cha. Buổi thăm nuôi kéo dài 2 tiếng đồng hồ.
Trước hết, bà Hiểu đề cập đến chuyện 3 người cháu Hoa Cường Việt, định báo những tin mới nhất. Cha Lý chặn ngay:
- Em đã biết hết rồi. Nhà nước thôi gán cho tội danh gián điệp là phải. Gán như vậy quá vô lý ....
Bà Hiểu cắt ngang:
- Hôm 01-07, khi đưa bản kết luận điều tra mới cho gia đình (xin xem dưới đây), công an có nói: "Chúng tôi đổi tội danh ra nhẹ như vậy là vì chú của ba bị can đã làm đơn xin Quốc hội".
- Làm chi có chuyện em gởi đơn lên Quốc hội. Em chẳng bao giờ xin xỏ chi với Nhà nước cả. Mấy tay công an đó nói láo! Mà dù có đem xử với tội danh khác cũng còn bất công. Ba đứa cháu không có tội chi cả!
- Dịp đó, công an cũng báo tin cho gia đình: mồng 2-9 tới, ông Lý có thể được tha về nhưng phải ra hải ngoại.
- Việc trả tự do cho em không quan trọng bằng trả tự do cho cả dân tộc và các tôn giáo. Ngoài ra, không ai ép được em xuất ngoại cả! (Và có lẽ để đón đầu, chặn trước âm mưu này, cha Lý thêm). Em chỉ ra hải ngoại, nếu cần, vì lợi ích của đất nước và của Giáo hội thôi, chứ không phải của riêng mình. Đi với lệnh của Giáo quyền. Và đi một hai năm rồi về chứ không hơn. Bằng không thì cứ ngồi tù, lâu mấy cũng được, để hy sinh cầu nguyện cho đất nước và Giáo hội. Còn ra tù thì tiếp tục ở lại trong nước mà tranh đấu tiếp.
- Từ hôm 08-5, Đức Cha Thể có hứa là sẽ thường xuyên cho người làm đơn xin đi thăm chú. Vậy đã có ai đại diện Giáo phận ra thăm chưa ?
- Chưa! Nhưng xin Chị thưa với ngài là em hết lòng cảm ơn ngài. Thật ra, mỗi năm em chỉ mong gặp một linh mục một lần vào mùa Chay để lo việc linh hồn, xưng tội xưng lỗi. Điều Đức Cha cần làm hơn là lên tiếng về vụ án của em ... Lần thăm tới, Chị nhớ cho em biết kết quả lời thỉnh cầu này. Xin Chị cũng cố gắng về giáo xứ An Truyền, thăm hỏi họ giùm em. Nhờ Chị nhắn với Hội đồng giáo xứ thế này: những nhà giáo dân nhà nào gây gổ nhau, bất hòa nhau, thì xin HĐGX tới đó thay mặt cha sở, quỳ lần chuỗi Mân Côi, cho đến khi mấy gia đình này hòa giải êm thắm ....
- Chắc Chú cũng có nghe nói chuyện một số dòng tu ở Huế mới bị lấy đất đai tài sản ?
- Em có biết. Và em cũng biết rằng Đức Cha Điền đã không bao giờ hiến cơ sở giáo dục nào tại Giáo phận cho nhà nước cả, nhưng có kêu mời mỗi địa phương và mỗi cộng đoàn sẵn lòng để nhà nước sử dụng, bao lâu nhà nước còn cần, các cơ sở và phương tiện giáo dục của tư thục Công giáo tại Giáo phận. Nói vắn gọn là có thể cho nhà nước mượn trường học, ký túc xá. Và phải có giấy tờ đàng hoàng rõ rệt giữa đơn vị giáo hội địa phương và chính quyền tại chỗ. Thành ra không có chuyện hiến, lại càng không có chuyện Đức Cha tự quyền dâng tặng cho nhà nước các tài sản của các dòng tu như dòng Lasan, dòng Chúa Cứu Thế ... Mà đã mượn thì phải lo trả! Là thư ký tòa giám mục lúc ấy, em nắm rất rõ việc này. Chính em mới đây cũng nói trực tiếp chuyện này với cán bộ nhà nước ...
Tình trạng sức khỏe cha vẫn tốt. Còn tinh thần thì như vừa thấy. Cha vẫn bị biệt giam, chẳng gặp được ai cả. Trại Ba Sao cũng vừa mới đón những người tù mới như anh Lê Chí Quang và anh Nguyễn Khắc Toàn. Nhưng hai người này bị giam ở khu B, còn cha Lý ở khu A, nằm trên vùng đất cao hơn, gần đỉnh núi.
Sau đây, chúng tôi xin gởi đến Quý vị ba (3) văn bản qua đó Cộng sản muốn tỏ ra lòng nhân đạo, phục thiện đầy mình và thương dân dữ lắm!
Trước hết là Phúc thư của phó chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế gởi đan viện Thiên An, để bày tỏ (theo văn bản) "trách nhiệm và thiện chí của cơ quan Nhà nước địa phương" và trách đan viện "thiếu tôn trọng đến sự quan tâm của Nhà nước nói chung và của UBND tỉnh Thừa Thiên Huế nói riêng" đối với đan viện (Xin xem lại Bản tin ngày 27-05-03 và ngày 01-07-03). Mối quan tâm đó là "cho phép Lâm trường Tiền Phong được giao khoán 11,4 ha rừng thông nhựa cho Đan viện chăm sóc, bảo vệ rừng" (và đôi ba chuyện khác). Cướp trắng của người ta 102 ha, người ta yêu cầu được giữ lại 50 ha (vì yếu thế trước họng súng) thì chỉ giao khoán cho người ta 11,4 ha để giữ không công. Ôi! Lòng nhân đạo cộng sản! Ngày 11-07 tới đây là lễ thánh Biển Đức, bổn mạng Đan viện. Nguyện cầu Thánh nhân giúp con cái ngài thoát khỏi kiểu nhân đạo khốn nạn của bọn cướp ngày này!
Thứ đến là Bản kết luận điều tra mới mang số 521 của Cơ quan An ninh điều tra thuộc Bộ Công an về Hoa, Cường Việt. Việc đổi tội danh cho ba bị can trước sự lên án tơi bời của quốc tế xem ra cho thấy Cộng sản cũng biết phục thiện. Thật ra CS chỉ biết phục lợi thôi, chỉ sợ bay mất những đồng đô la thiêng thánh của tư bản thôi (Trước đây tại Việt Nam có thành ngữ CS hay dùng: "Cuộc chiến thần thánh chống bọn đế quốc tư bản" và "Tài sản xã hội chủ nghĩa thiêng liêng". Nay thời thế đổi thay, lòng người thay đổi, chỉ còn lại một vật rất thiêng thánh đối với CSVN là đồng đô la!). Nhưng để thỏa mãn lòng tự ái, hả dạ lòng căm thù và nêu bật chân lý "Đảng ta bao giờ cũng hành động đúng", CS phải nặn ra một tội khác cho được. Thành ra, dù đem xử với tội danh khác này, cũng vẫn còn bất công. Qua bản văn dưới đây và Bản cáo trạng mới của viện Kiểm sát tối cao (sắp xuất hiện), bà con sẽ được thấy những biếm họa rất trung thực về nền pháp lý ưu việt của nước CHXHCN Việt Nam!
Cuối cùng là "Đề cương giới thiệu những nội dung cơ bản của ba Nghị quyết : về đại đoàn kết toàn dân tộc, về công tác dân tộc, về công tác tôn giáo". Mục đích là "Góp phần thống nhất nhận thức trong Đảng và trong hệ thống chính trị, giúp dân hiểu rõ chủ trương, đường lối của Đảng, bác bỏ những luận điệu xuyên tạc, vu cáo của các thế lực thù địch.... Tạo điều kiện quan trọng để thực hiện tốt chính sách đại đoàn kết của Đảng nhằm thực hiện thắng lợi những mục tiêu và nhiệm vụ của nhân dân ta trong thời kỳ mới". Đảng ta thật là thương nước thương dân không ai bằng! Nhưng đọc cho thật kỹ, Quý vị sẽ thấy đó là cả một chiến lược nhằm gông cổ toàn dân, đặc biệt là các tôn giáo và các sắc tộc thiểu số hơn nữa dưới bàn tay sắt của đảng. Minh họa cụ thể và trước mắt cho chiến lược này là một loạt vụ án man rợ dành cho những người bất đồng chính kiến, một loạt vụ cướp trắng trợn nhắm vào tài sản của các tôn giáo, một loạt vụ đàn áp thô bạo phủ đầu các đồng bào sắc tộc và một chiến dịch rầm rộ trên cả nước nhằm cấp tốc hoàn thành hai cũi sắt "pháp lệnh tôn giáo" và "nghị định tôn giáo".
Phóng viên tường trình từ Huế
+++++++++++++++++++++++++++++++
| ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ --------------------------- Số 1390/KN-UB "V/v Trả lời Văn thư số 25 VT-VPTA ngày 25-5-2003" |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
Huế ngày 13 tháng 6 năm 2003
Kính gửi: Ông Linh mục Huỳnh Quang Sanh
Bề trên Đan viện Thiên An
UBND tỉnh Thừa Thiên Huế nhận được Văn thư số 25/VT-VPTA ngày 25/5/2003 do Ông ký tên trình bày một số vấn đề liên quan đến nguồn nước Hồ Thủy Tiên, rừng thông và việc di dời mồ mả trên tuyến đường vào khu Trung tâm vui chơi giải trí Đồi Thiên An - Hồ Thủy Tiên.
Sau khi xem xét các nội dung văn thư, UBND tỉnh trả lời Ông như sau:
1/ Việc sử dụng nguồn nước hồ Thủy Tiên:
- Tại buổi làm việc với Đan viện Thiên An ngày 13/7/2002 (có Ông và một số tu sĩ khác của Đan viện cùng tham dự), UBND tỉnh đã kết luận giao nhiệm vụ cho Công ty Du lịch Cố đô Huế và UBND xã Thủy Bằng tạo điều kiện thuận lợi để Đan viện sử dụng nước tưới cho vườn cam, được nối tuyến để sử dụng nước sạch khi xây dựng tuyến cấp nước cho khu vui chơi giải trí. Vấn đề này đã được Công ty Du lịch Cố đô Huế tích cực triển khai thực hiện. Các hệ thống cống, rãnh thoát nước, hệ thông thông nguồn nước hồ Thủy Tiên... sẽ được thực thi trong thời gian tới theo tiến độ công trình đã được phê duyệt. Đây là vấn đề lớn nhằm bảo vệ đường giao thông, các công trình của Nhà nước và của nhân dân nói chung trong đó có vườn cam của Đan viện.
- Việc mặt nước hồ Thủy Tiên khô cạn là do thời tiết tự nhiên, nắng nóng kéo dài gây khô hạn trên diện rộng; không riêng gì ở tỉnh ta, mà các tỉnh khác cũng trong tình trạng báo động khẩn cấp. Công ty Du lịch Cố đô Huế phải đào sâu, mở rộng hồ (phía giáp đường) để có nguồn nước phục vụ yêu cầu trước mắt và lâu dài.
2/ Việc giao khoán một số diện tích rừng thông:
Ông cho rằng UBND tỉnh không lưu tâm đến việc Đan viện xin giữ lại một số diện tích rừng thông để Đan viện chăm sóc và bảo vệ .... là không đúng sự thật, thiếu tôn trọng đến vấn đề quan tâm của Nhà nước nói chung và của UBND tỉnh Thừa Thiên Huế nói riêng đối với Đan viện:
- Tại các buổi họp ngày 13/7/2002 và ngày 9/10/2002 giữa UBND tỉnh và các cơ quan, ban ngành liên quan với Đan viện Thiên An, Ông có đề đạt nguyện vọng xin được giao một số diện tích rừng thông do Lâm trường Tiền Phong đang quản lý để chăm sóc bảo vệ môi trường khu vực tịnh tu. Về nguyên tắc, UBND tỉnh đã đồng ý. Tuy nhiên, để đảm bảo thủ tục, UBND tỉnh đã yêu cầu phía Đan viện phải có văn bản trình Tỉnh xem xét giải quyết; nhưng đến nay, phía Đan viện Thiên An vẫn chưa có văn bản đề nghị theo yêu cầu nói trên.
- Mặc dù vậy, nhưng với trách nhiệm và thiện chí của cơ quan Nhà nước địa phương, ngày 03/12/2002, UBND tỉnh có Công văn số 2518/CV-UB "V/v Giao khoán rừng thông cho hộ tập thể Đan viện Thiên An" gửi trực tiếp cho Ông. UBND tỉnh đã đồng ý, cho phép Lâm trường Tiền Phong được giao khoán 11,4 ha rừng thông nhựa cho người đại điện Đan viện với tư cách là chủ hộ tập thể để Đan viện chăm sóc, bảo vệ rừng theo tinh thần Nghị định 163/1999/NĐ-CP ngày 16/1/1999 và Nghị định 01/CP ngày 4/1/1995 của Chính phủ. UBND tỉnh có đề nghị Ông liên hệ với Lâm trường Tiền Phong để làm thủ tục nhận khoán theo quy định của pháp luật. Nhưng đến nay, Ông vẫn chưa liên hệ với Lâm trường Tiền Phong (chủ rừng) để thực hiện thủ tục nhận khoán.
- Thực hiện ý kiến chỉ đạo của UBND tỉnh trong việc giao khoán diện tích rừng thông nói trên cho Đan viện, ngày 04/12/2002 Sở Địa chính đã chủ trì phối hợp với Sở Nông nghiệp và PTNT, UBND huyện Hương Thủy, UBND xã Thủy Bằng, Lâm trường Tiền Phong và Trung tâm Kỹ thuật Địa chính tiến hành cắm mốc ranh giới các khu đất rừng thông nhựa đặc dụng để giao khoán cho hộ tập thể Đan viện. Hội đồng đã mời Đan viện tham gia Hội đồng cắm mốc nhưng Đan viện không cử người tham gia. Lâm trường Tiền Phong đã chuẩn bị các hồ sơ, thủ tục cần thiết để Đan viện thực hiện việc ký hợp đồng giao nhận khoán diện tích rừng thông đặc dụng nói trên, nhưng Đan viện cũng không liên hệ. Mặt khác, Sở Địa chính cũng đã cử cán bộ làm việc với đại diện Đan viện để hướng dẫn lập hồ sơ cấp giấy CNQSDĐ ổn định lâu dài đối với khuôn viên Dòng tu Đan viện, vườn cam và hướng dẫn thủ tục giao sử dụng tạm thời các thửa đất đã cắm mốc khi thực hiện Quyết định 577/QĐ-XKT ngày 06/6/2002 của Tổng thanh tra Nhà nước ... nhưng cho đến nay, phía Đan viện vẫn chưa thực hiện các vấn đề nói trên.
3/ Về địa điểm tái chôn cất mồ mả:
Thể theo nguyện vọng của những hộ có mồ mả người thân thuộc diện giải tỏa và đề xuất của Đan viện, UBND tỉnh thống nhất địa điểm tái chôn cất số mồ mả nằm trên tuyến đường thuộc diện giải tỏa đến tại vị trí đồi thông có tọa độ theo Hệ Tọa độ VN-2000: X = 775437,0m - Y = 1818425,0m; Vĩ độ Bắc B = 16024'45,7"; Kinh độ Đông L = 107034'51,1"; Độ cao H = 39,8m. Trình tự, thủ tục, mức giá đền bù di dời mồ mả, lăng mộ thực hiện theo đúng chính sách đền bù giải tỏa Nhà nước quy định. Trường hợp các hộ có nguyện vọng muốn di chuyển mộ người thân về nghĩa trang thành phố vẫn được các cấp có thẩm quyền giúp đỡ, tạo điều kiện.
Ban Quản lý Dự án các Công trình Giao thông Tỉnh sẽ làm việc với các hộ liên quan và với Đan viện về các thủ tục cần thiết liên quan đến việc di dời mồ mả.
Trên đây là một số vấn đề UBND tỉnh trả lời Ông theo nội dung Văn thư số 25/VT-VPTA ngày 25/5/2003 nói trên.
TM. ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
KT CHỦ TỊCH
(ký tên và đóng dấu)
PHÓ CHỦ TỊCH
NGUYỄN XUÂN LÝ
Nơi nhận
- Như trên;
- Thường vụ Tỉnh ủy (báo cáo);
- CT. PCT HĐND & UBND tỉnh;
- UBMTTQVN tỉnh;
- Ban TGCQ tỉnh; CA tỉnh, LTTP;
- UBND huyện H.Thủy; UBND xã T. Bằng;
- Đan phụ Chủ tịch hội Subiaco;
- Đức Tổng Giám mục Giáo phận Huế;
- Các linh mục và các Dòng tu Giáo phận Huế;
- VP; LĐ; CV; KNTC; NC; NĐ; TH;
- Lưu VT.
+++++++++++++++++++++++++++++++
BỘ CÔNG AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
Tp. Hồ Chí Minh, ngày 01 tháng 7 năm 2003
BẢN KẾT LUẬN ĐIỀU TRA
Vụ án: Nguyễn Vũ Việt và đồng bọn lợi dụng các quyền tự do dân chủ
xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân
xảy ra tại Tp Hồ Chí Minh và các tỉnh khác
- Căn cứ Quyết định khởi tố vụ án hình sự số 118 ngày 21/6/2001 của Cơ quan An ninh điều tra - Bộ Công an.
- Căn cứ các Quyết định khởi tố bị can số 120, 121 ngày 21/6/2001, số 124 ngày 27/6/2001 của Cơ quan An ninh điều tra - Bộ công an đối với Nguyễn Vũ Việt, Nguyễn Trực Cường và Nguyễn Thị Hoa về tội: gián điệp.
- Căn cứ Quyết định trả hồ sơ số 04 ngày 18/6/2003 của Viện Kiểm sát nhân dân Tối cao.
- Căn cứ các Quyết định thay đổi Quyết định khởi tố bị can số 62, 61, 63 ngày 24/6/2003 của Cơ quan An ninh điều tra - Bộ Công an đối với Nguyễn Vũ Việt, Nguyễn Trực Cường, Nguyễn Thị Hoa về tội: Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân.
Sau khi kết thúc điều tra thấy:
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tháng 11/2000 Nguyễn Vũ Việt từ Tp Hồ Chí Minh ra Nguyệt Biều, Huế để học vi tính. Trong thời gian ở Huế học vi tính khoảng 2 tuần, Nguyễn Vũ Việt đã gặp hai người phụ nữ tên Hiền và Thu là Việt kiều, quốc tịch Mỹ (Ngô Thị Hiền là chủ tịch Ủy ban tự do tôn giáo cho Việt Nam, một tổ chức phản động của người Việt Nam tại Mỹ). Khi gặp Nguyễn Vũ Việt, Thu ngỏ ý nếu Việt muốn đi du học nước ngoài thị sẽ giúp. Khoảng tháng 3/2001 thị Thu đã gửi Email cho Việt qua mạng Internet yêu cầu Việt gửi bằng tốt nghiệp, lý lịch trích ngang, bảng điểm cho thị Thu, theo địa chỉ là Lynaghminhthu@hotmail.com. Khoảng tháng 5/2001 thị Thu tiếp tục gửi Email cho Việt yêu cầu viết thư theo mẫu bằng tiếng Anh do thị Thu gửi để thị Thu xin học bổng đi tu cho Việt tại Mỹ. Cũng trong thời gian từ tháng 1 đến 6/2001, Nguyễn Vũ Việt đã nhận một số tài liệu từ trên mạng Internet qua các hộp thư huong oanh Vu, Jn Việt @ hotmail. Com, glorier more @ hotmail.Com , có nội dung không đúng sự thật về tự do, dân chủ và tín ngưỡng, tôn giáo Việt Nam của Nguyễn Văn Lý và một số đối tượng khác.
Sau khi bà nội Nguyễn Vũ Việt (mẹ ruột của Nguyễn Văn Lý) chết (ngày 18/5/2001) Việt có nhận được Email của thị Hiền qua hộp thư của Nguyễn Vũ Việt với nội dung hỏi thăm chia buồn về đám tang của bà nội Việt và trong thư có nói sẽ làm 01 cuốn sách về các linh mục ở Việt Nam, trong đó có linh mục Nguyễn Văn Lý, do đó thị Hiền yêu cầu Nguyễn Vũ Việt gửi cho thị một số thông tin về Nguyễn Văn Lý do thị Hiền đặt ra, một số hình ảnh đám tang bà nội Việt ... Nguyễn Vũ Việt đã gửi cho thị Hiền một tài liệu qua mạng Internet với nội dung trả lời 30 câu hỏi về Nguyễn Văn Lý cho thị Hiền đặt ra, một số hình ảnh về thời niên thiếu của Nguyễn Văn Lý. Ngoài ra Việt còn gửi cho thị Hiền một số tài liệu khác do Nguyễn Văn Lý và Việt tự viết. Cũng tại thời điểm trước và sau khi bà nội của Nguyễn Vũ Việt chết thì Nguyễn Thị Hoa (chị ruột của Nguyễn Vũ Việt) có nhận được điện thoại của một người từ bên Mỹ gọi về nhà thị Hoa tự xưng tên là Trang làm ở đài Quê hương tại Mỹ và nhờ thị Hoa động viên em của thị giúp nắm tình hình về việc các tín đồ phật giáo chuẩn bị đi đón Huyền Quang (Lê Đình Nhàn) từ Quảng Ngãi vào Tp Hồ Chí Minh. Nguyễn Thị Hoa đã động viên Nguyễn Trực Cường (em trai thị Hoa) giúp thị Trang đi Thanh Minh Thiền Viện ở Tp Hồ Chí Minh, để nắm tình hình về việc đón Lê Đình Nhàn từ Quảng Ngãi vào Tp Hồ Chí Minh và đưa cho Cường 500 USD trong tổng số 2300 USD mà thị Trang gửi cho thị Hoa. Nguyễn Trực Cường đã sử dụng 500 USD cùng Nguyễn Vũ Việt đi mua 01 điện thoại di động và 2 Sim card mới (Nguyễn Trực Cường sử dụng 01 Sim card, Nguyễn Vũ Việt sử dụng 01 Sim card), để liên lạc với thị Trang ở đài Quê hương. Việt đã hướng dẫn Cường cách đi lại, quan sát không được gây sự chú ý để khỏi bị bắt giữ. Sau khi trực tiếp đi nắm tình hình ở khu vực Thanh Minh Thiền Viện, Cường điện thoại báo tình hình ở Thanh Minh Thiền Viện cho thị Trang, Trang lại yêu cầu Cường đi Quảng Ngãi gặp Lê Đình Nhàn. Cường mua 01 máy ghi âm và 01 máy ảnh để thực hiện yêu cầu trên. Trước khi thực hiện yêu cầu này, Cường đã bàn với Việt và được Việt hướng dẫn phải làm thế nào như một người đi du lịch tránh bị phát hiện bắt giữ. Ngày 9/6/2001 khi đến chùa Phước Quang, huyện Nghĩa Hành, Quảng Ngãi gặp Lê Đình Nhàn (Huyền Quang), Cường đã chụp được 2 kiểu ảnh Lê Đình Nhàn và chuyển lời thăm hỏi của thị Trang đến Lê Đình Nhàn, sau đó y ra khỏi chùa thì bị Công an huyện Nghĩa Hành, Quảng Ngãi tạm giữ hành chính.
Để tạo điều kiện và động viên Nguyễn Vũ Việt, Nguyễn Thị Hoa, Nguyễn Trực Cường làm việc theo yêu cầu của chúng, Ngô Thị Hiền, Đoan Trang đã gửi nhiều lần cho Nguyễn Vũ Việt, Nguyễn Thị Hoa với tổng số tiền 2950 USD và 2.900.000đ. Khi bắt giữ Nguyễn Vũ Việt, Nguyễn Thị Hoa, cơ quan điều tra đã thu được một số tài liệu in ra từ ổ đĩa mềm, ổ đĩa cứng máy vi tính của Nguyễn Vũ Việt và 01 tập tài liệu tại nhà thị Hoa gồm nhiều bài viết của các linh mục trong và ngoài nước, có nội dung ca ngợi Nguyễn Văn Lý, xuyên tạc đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước. Những tài liệu này Nguyễn Vũ Việt khai nhận từ trên mạng Internet và một số tài liệu do Nguyễn Văn Lý gửi cho Việt; Việt đã in ra một số bài và đóng thành 01 quyển sách đem về để ở nhà mẹ đẻ của Việt; quyển sách này ta thu giữ khi khám xét nhà thị Hoa.
KẾT LUẬN
Lợi dụng các quyền tự do dân chủ, từ tháng 11/2000 đến 2001, Nguyễn Vũ Việt, Nguyễn Trực Cường, Nguyễn Thị Hoa đã thu thập, tàng trữ, tuyên truyền nhiều tin tức, tài liệu không đúng sự thật về tín ngưỡng tôn giáo ở Việt Nam làm ảnh hưởng xấu tới chính sách tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Nhà nước ta, đã phạm vào tội: Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân được quy định tại điều 258 Bộ luật hình sự.
HÀNH VI PHẠM TỘI CỦA CÁC BỊ CAN
1. Nguyễn Vũ Việt - Nam
Sinh ngày 24 tháng 2 năm 1975 tại Quảng Trị.
Nơi ĐKNKTT: 77 tổ 2, Lai Uyên, Bến Cát, Bình Dương.
Chỗ ở: 179 Hoàng Văn Thụ, phường 8, quận Phú Nhuận, TP Hồ Chí Minh.
Nghề nghiệp: Nhân viên Văn phòng liên lạc chương trình hợp tác đào tạo giữa Đại học dân lập Văn Hiến Tp Hồ Chí Minh và Đại học Broward Hoa Kỳ.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh.
Hành vi phạm tội:
Nguyễn Vũ Việt đã trực tiếp quan hệ với Ngô Thị Hiền, chủ tịch Ủy ban tự do tôn giáo cho Việt Nam; Đoan Trang, giám đốc đài Quê hương ở Mỹ. Nguyễn Vũ Việt thu thập, tàng trữ nhiều tin tức tài liệu không đúng về tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam, làm ảnh hưởng xấu tới chính sách tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Nhà nước ta. Đã nhận từ Ngô Thị Hiền 2.900.000đ và nhận của một người tên Dũng từ Mỹ gửi về cho Việt 650 USD; Việt đã giữ lại 150 USD còn 500 USD đã đưa cho Nguyễn Văn Dũng (anh trai Việt) để lo chữa bệnh cho mẹ Việt. Ngoài ra Nguyễn Vũ Việt còn tàng trữ nhiều tài liệu trong máy vi tính, in ra từ máy đưa về nhà mẹ Nguyễn Vũ Việt (ở 41/111 khu 2B Quảng Biên, Quảng Tiến, Thống Nhất, Đồng Nai) 01 tập tài liệu có nội dung xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về tự do tín ngưỡng, tôn giáo.
Hành vi của Nguyễn Vũ Việt đã phạm vào tội lợi dụng quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân được quy định tại điều 258-BLHS nước CHXHCN Việt Nam.
2. Nguyễn Trực Cường - Nam
Sinh ngày 01/11/1967 tại Quảng Trị.
Nơi ĐKNKTT: 41/111 khu 2B, Quảng Biên, Quảng Tiến, Thống Nhất, Đồng Nai.
Chỗ ở: Như trên.
Nghề nghiệp: Thợ trang trí nội thất.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh.
Hành vi phạm tội:
Thông qua Nguyễn Thị Hoa (chị gái Nguyễn Trực Cường), Cường trực tiếp quan hệ với Đoan Trang, giám đốc đài Quê hương ở Mỹ. Nguyễn Trực Cường đã nhận từ Đoan Trang (thông qua thị Hoa) 500 USD để mua máy điện thoại di động, máy chụp ảnh và máy ghi âm; thực hiện các yêu cầu của Đoan Trang đi Thanh Minh Thiền Viện để nắm tình hình chuẩn bị đón Lê Đình Nhàn từ Quảng Ngãi vào Tp Hồ Chí Minh; đi Quảng Ngãi nắm tình hình về Lê Đình Nhàn, theo yêu cầu của thị Trang.
Hành vi của Nguyễn Trực Cường đã phạm vào tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân được quy định tại điều 258-BLHS nước CHXHCN Việt Nam.
3. Nguyễn Thị Hoa - Nữ
Sinh năm 1959 tại Quảng Trị.
Nơi ĐKNKTT: 40/110 khu 2B, Quảng Biên, Quảng Tiến, Thống Nhất, Đồng Nai.
Chỗ ở: Như trên.
Nghề nghiệp: Buôn bán.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh.
Hành vi phạm tội:
Nguyễn Thị Hoa từ khi được Đoan Trang, giám đốc đài Quê hương tại Mỹ móc nối, đã liên lạc nhiều lần với Đoan Trang. Đã nhiều lần nhận tiền do tổ chức của Đoan Trang gửi về để chuyển cho gia đình Nguyễn Văn Lý và đưa cho Nguyễn Trực Cường mua sắm phương tiện hoạt động theo yêu cầu của chúng, động viên Nguyễn Trực Cường (em ruột) làm các công việc theo yêu cầu của Đoan Trang.
Nguyễn Thị Hoa đã nhận từ Đoan Trang 2300 USD (trong đó đưa Cường 500 USD để thực hiện các yêu cầu của Đoan Trang; đưa bà Quy (chị bà Hiếu) 1000 USD để xây mộ cho mẹ Nguyễn Văn Lý, đưa cho bà Hiếu 500 USD để thăm nuôi Nguyễn Văn Lý, bản thân thị Hoa được hưởng 300 USD.
Nguyễn Thị Hoa còn tàng trữ 01 tập tài liệu do Nguyễn Vũ Việt đưa về có nội dung không đúng sự thật về tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam.
Hành vi của Nguyễn Thị Hoa đã phạm vào tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân được quy định tại điều 258-BLHS nước CHXHCN Việt Nam.
- Căn cứ kết quả điều tra vụ án.
- Căn cứ điều 137, 138 Bộ luật TTHS nước CHXHCN Việt Nam
Cơ quan An ninh điều tra - Bộ Công an
QUYẾT ĐỊNH
Chuyển bản kết luận điều tra vụ án hình sự và toàn bộ hồ sơ vụ án đến VKSND Tối cao đề nghị truy tố 03 bị can có lý lịch nêu trên theo tội danh và điều luật đã dẫn.
Kèm theo bản kết luận điều tra có
Hồ sơ vụ án gồm: ......tập, tổng cộng ........tờ.
Thống kê vật chứng.
CƠ QUAN ANĐT - BỘ CÔNG AN
PHÓ THỦ TRƯỞNG
(ký tên và đóng dấu)
Thượng tá: Lý Anh Quán
Nơi nhận
- VKSNDTC
- Đ/c Thủ trưởng CQANĐT-BCA
- Các bị can.
- Lưu hồ sơ.
+++++++++++++++++++++++++++++++
Đề cương giới thiệu :
NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA BA NGHỊ QUYẾT :
VỀ ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC, VỀ CÔNG TÁC DÂN TỘC, VỀ CÔNG TÁC TÔN GIÁO
Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương (khóa IX) đã bàn và ra 4 Nghị quyết lớn. Trong đó có 3 nghị quyết liên quan đến công tác dân vận, mặt trận. Đó là Nghị quyết về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh ; Nghị quyết về công tác dân tộc và Nghị quyết về công tác tôn giáo.
Sự cần thiết của việc Trung ương bàn và ra nghị quyết về các vấn đề đại đoàn kết toàn dân tộc, công tác dân tộc, công tác tôn giáo.
- Từ khi ra đời và trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn xác định vấn đề đại đoàn kết toàn dân tộc, vấn đề dân tộc, vấn đề tôn giáo là những vấn đề chiến lược có tầm quan trọng đặc biệt. Ngày nay trong thời kỳ mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Nghị quyết Đại hội IX của Đảng một lần nữa xác định: "Động lực chủ yếu để phát triển đất nước là đại đoàn kết toàn dân trên cơ sở liên minh giữa công nhân và nông dân và trí thức do Đảng lãnh đạo, kết hợp hài hòa các lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội, phát huy mọi tiềm năng và nguồn lực của các thành phần kinh tế của toàn xã hội"
- Các thế lực thù địch của cách mạng hiểu rõ đại đoàn kết toàn dân dưới sự lãnh đạo của Đảng là nguồn gốc sức mạnh của nhân dân ta nên luôn tìm cách phá hoại khối đại đoàn kết đó, đặc biệt chúng ra sức lợi dụng tính phức tạp và nhạy cảm của các vấn đề dân tộc, tôn giáo để kích động, chia rẽ, gây rối và can thiệp vào công việc nội bộ của nước ta, chống phá chế độ xã hội chủ nghĩa và sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta. Từ khi ta thực hiện đường lối đổi mới, phát triển nền kinh tế nhiều thành phần và mở cửa hội nhập kinh tế thế giới thì các thế lực thù địch lại càng tăng cường lợi dụng các vấn đề dân tộc, tôn giáo để chống phá quyết liệt.
- Trong khi đó, việc thực hiện chủ trương đại đoàn kết toàn dân tộc và các chính sách về dân tộc, tôn giáo bên cạnh những thành công, cũng còn nhiều thiếu sót. Nhiều quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng về dân tộc, tôn giáo, nhất là về tôn giáo, lâu nay không được thông tin đầy đủ đến cán bộ, đảng viên và nhân dân. Có tình trạng thiếu thống nhất trong nội bộ cán bộ đảng viên về quan điểm, chủ trương, giải quyết nhiều vấn đề cụ thể liên quan đến công tác dân tộc, tôn giáo. Trước các vụ việc phức tạp và nhạy cảm phát sinh còn có nhiều ý kiến khác nhau từ cấp dưới đến cấp trên. Tổ chức bộ máy chăm lo các công tác này còn nhiều bất cập khiến việc thực hiện đường lối, chính sách của Đảng không nhất quán, kém hiệu quả, gây những nghi ngờ, tâm tư hoặc sự hiểu sai lệch trong một bộ phận nhân dân, nhất là trong một số đồng bào ở một số vùng dân tộc thiểu số và trong một số đồng bào và chức sắc tôn giáo.
Công tác đấu tranh ngăn chặn các hành vi lợi dụng tôn giáo và dân tộc để chống phá ta, tuy đã có cố gắng, nhưng còn bị động, lúng túng và nặng về xử lý từng vụ việc, nên hiệu quả không cao.
Vì những lý do trên đây, Trung ương cần bàn và ra nghị quyết về các vấn đề nêu trên là rất cần thiết, góp phần thống nhất nhận thức trong Đảng và trong hệ thống chính trị, giúp dân hiểu rõ chủ trương, đường lối của Đảng, bác bỏ những luận điệu xuyên tạc, vu cáo của các thế lực thù địch. Với việc ra các Nghị quyết đó sẽ tạo điều kiện quan trọng để thực hiện tốt chính sách đại đoàn kết của Đảng nhằm thực hiện thắng lợi những mục tiêu và nhiệm vụ của nhân dân ta trong thời kỳ mới.
Cũng vì lý do trên, Trung ương đồng tình việc cho ban hành 3 nghị quyết riêng biệt để có điều kiện trình bày rõ những quan điểm, chủ trương, chính sách về các vấn đề dân tộc và tôn giáo.
Sau đây là nội dung cơ bản trong nghị quyết trên.
1. Về những thành tựu
a. Nhìn chung, khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức được mở rộng hơn, nội dung phong phú, sâu sắc hơn, hình thức đa dạng hơn. Đó là nhân tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững ổn định chính trị - xã hội của đất nước.
- Từ sau Đại hội VI (1986) của Đảng đến nay, Đảng ta đã có nhiều nghị quyết, chỉ thị về tăng cường mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân, về đại đoàn kết toàn dân tộc, về dân tộc, tôn giáo, về Mặt trận và các đoàn thể nhân dân. Thông qua việc thực hiện các nghị quyết, chỉ thị đó, quyền làm chủ của nhân dân trong tham gia quản lý nhà nước, quản lý kinh tế, xã hội đã từng bước được phát huy, góp phần tích cực động viên nhân dân phấn khởi đẩy mạnh sản xuất, thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - văn hóa - xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh.
- Việc tập hợp nhân dân dưới các hình thức đa dạng có bước phát triển mới. Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên được mở rộng, vai trò và vị trí trong xã hội được nâng cao, nội dung hoạt động phong phú, thiết thực hơn đã động viên, lôi cuốn được đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia các cuộc vận động, các phong trào thi đua yêu nước.
b. Đánh giá về tình hình dân tộc và công tác dân tộc, Nghị quyết chỉ rõ:
Tình hình miền núi và các vùng đồng bào dân tộc thiểu số có những chuyển biến quan trọng, biểu hiện ở những điểm sau:
c. Đánh giá tình hình tôn giáo và công tác tôn giáo trong việc thực hiện đường lối tôn giáo của Đảng, Nghị quyết Trung ương 7 nêu những thành tựu chủ yếu là:
Nguyên nhân của những thành tựu trên đây là:
2. Yếu kém, khuyết điểm
a. Khối đại đoàn kết toàn dân tộc, mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân chưa thật bền chặt và đang đứng trước những thách thức mới.
Những biểu hiện cụ thể của thực trạng đó là:
b. Về vấn đề dân tộc có những hạn chế, yếu kém sau:
- Một là, về kinh tế:
- Hai là, về mặt xã hội:
- Ba là, hệ thống chính trị cơ sở ở nhiều vùng dân tộc và miền núi còn yếu. Biểu hiện cụ thể là:
c. Tình hình tôn giáo còn có những hạn chế sau:
- Một số người chưa tuân thủ pháp luật, còn tổ chức truyền đạo trái phép; còn lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để hành nghề mê tín dị đoan.
- Ở một số nơi, nhất là ở vùng dân tộc thiểu số, một số người đã lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để tiến hành những hoạt động chống đối, kích động tín đồ nhằm phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, gây mất ổn định chính trị.
Nguyên nhân của những khuyết điểm, yếu kém nói trên chủ yếu là do:
1. Mục tiêu:
Nghị quyết chỉ rõ mục tiêu chung, bao trùm là: củng cố và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, giữ vững độc lập, thống nhất của Tổ quốc, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước vì mục tiêu dân giầu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.
2. Quan điểm:
a. Nghị quyết về đại đoàn kết toàn dân tộc nêu 4 quan điểm chỉ đạo.
Một là đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam, là nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Hai là đại đoàn kết toàn dân tộc lấy mục tiêu giữ vững độc lập, thống nhất của Tổ quốc, vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh làm điểm tương đồng, xóa bỏ mặc cảm, định kiến, phân biệt đối xử về quá khứ, thành phần, giai cấp, xây dựng tinh thần cởi mở, tin cậy lẫn nhau, cùng hướng tới tương lai.
Ba là bảo đảm công bằng và bình đẳng xã hội, chăm lo lợi ích thiết thực, chính đáng, hợp pháp của các giai cấp, các tầng lớp nhân dân; kết hợp hài hòa lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể và lợi ích toàn xã hội; thực hiện dân chủ gắn liền với giữ gìn kỷ cương, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí; không ngừng bồi dưỡng, nâng cao tinh thần yêu nước, ý thức độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc, tinh thần tự lực, tự cường xây dựng đất nước; xem đó là động lực củng cố và phát triển khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Bốn là đại đoàn kết là sự nghiệp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị mà hạt nhân lãnh đạo là các tổ chức đảng, được thực hiện bằng nhiều biện pháp, hình thức, trong đó các chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước có ý nghĩa quan trọng hàng đầu.
Bốn quan điểm chỉ đạo trên đây là một thể thống nhất, thể hiện đường lối chiến lược: "Phát huy sức mạnh toàn dân tộc, tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa" do Đại hội IX đề ra.
b. Một số quan điểm cơ bản đối với công tác dân tộc.
Trên cơ sở lý luận Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc của Đảng Cộng sản, Nghị quyết cụ thể hóa và nêu 5 quan điểm cơ bản.
Một là vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược cơ bản, lâu dài đồng thời cũng là vấn đề cấp bách hiện nay của cách mạng Việt Nam.
Hai là các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tương trợ, giúp nhau cùng phát triển, cùng nhau phấn đấu thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, kiên quyết đấu tranh với mọi âm mưu chia rẽ dân tộc.
Ba là phát triển toàn diện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và an ninh - quốc phòng trên địa bàn vùng dân tộc và miền núi; gắn tăng trưởng kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội, thực hiện chính sách dân tộc; quan tâm phát triển, bồi dưỡng nguồn nhân lực; chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số; giữ gìn và phát huy những giá trị, bản sắc văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số trong sự phát triển chung của cộng đồng dân tộc Việt Nam thống nhất.
Bốn là ưu tiên đầu tư phát triển kinh tế - xã hội các vùng dân tộc và miền núi; khai thác có hiệu quả tiềm năng, thế mạnh của từng vùng đi đôi với bảo vệ bền vững môi trường sinh thái; phát huy nội lực, tinh thần tự lực tự cường của đồng bào các dân tộc, đồng thời tăng cường sự quan tâm hỗ trợ của Trung ương và sự tương trợ, giúp đỡ của các địa phương trong cả nước.
Năm là công tác dân tộc và thực hiện chính sách dân tộc là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của các cấp, các ngành, của toàn bộ hệ thống chính trị.
c. Các quan điểm và chính sách đối với tôn giáo
Trên cơ sở thực hiện nhất quán đường lối tự do tín ngưỡng, Nghị quyết xác định 5 quan điểm, chính sách cơ bản cần thống nhất nhận thức trong các cấp ủy, các tổ chức đảng, các cấp, các ngành như sau:
Một là tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Đồng bào các tôn giáo là bộ phận cấu thành của khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào, quyền sinh hoạt tôn giáo bình thường theo đúng pháp luật. Các tôn giáo hoạt động trong khuôn khổ pháp luật, bình đẳng trước pháp luật.
Hai là Đảng, Nhà nước thực hiện nhất quán chính sách đại đoàn kết dân tộc. Đoàn kết đồng bào theo các tôn giáo khác nhau; đoàn kết đồng bào theo tôn giáo và không theo tôn giáo. Giữ gìn và phát huy những giá trị tích cực của truyền thống thờ cúng tổ tiên, tôn vinh những người có công với Tổ quốc và nhân dân. Nghiêm cấm sự phân biệt đối xử với công dân vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo. Đồng thời, nghiêm cấm lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để hoạt động mê tín dị đoan, hoạt động trái pháp luật và chính sách của Nhà nước, kích động chia rẽ nhân dân, chia rẽ các dân tộc, gây rối, xâm phạm an ninh quốc gia.
Ba là nội dung cốt lõi của công tác tôn giáo là công tác vận động quần chúng. Mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ, văn minh là điểm tương đồng để gắn bó đồng bào các tôn giáo với sự nghiệp chung. Mọi công dân không phân biệt tín ngưỡng, tôn giáo đều có quyền và nghĩa vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Công tác vận động quần chúng các tôn giáo phải động viên đồng bào nêu cao tinh thần yêu nước, ý thức bảo vệ độc lập và thống nhất của Tổ quốc, thông qua việc thực hiện tốt các chính sách kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng, bảo đảm lợi ích vật chất và tinh thần của nhân dân nói chung, trong đó có đồng bào tôn giáo.
Bốn là công tác tôn giáo là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị.
- Do công tác tôn giáo liên quan đến các lĩnh vực của đời sống xã hội, các cấp, các ngành, các địa bàn, nên làm tốt công tác tôn giáo là trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chính trị do Đảng lãnh đạo.
- Tổ chức bộ máy, đội ngũ cán bộ chuyên trách làm công tác tôn giáo có trách nhiệm trực tiếp, cần được củng cố và kiện toàn.
- Công tác quản lý nhà nước đối với các tôn giáo và đấu tranh chống việc lợi dụng tôn giáo để chống đối chế độ chỉ thành công nếu làm tốt công tác vận động quần chúng.
Năm là vấn đề theo đạo và truyền đạo.
Năm quan điểm và chính sách trên là một thể thống nhất, là sự cụ thể hóa chính sách tự do tín ngưỡng, tự do theo đạo hoặc không theo đạo của Đảng và Nhà nước ta.
1. Xây dựng những định hướng chính sách nhằm tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Đây là một quyết định quan trọng của Hội nghị Trung ương về vấn đề đại đoàn kết toàn dân tộc. Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, lợi ích cơ bản của các giai cấp và tầng lớp nhân dân trong xã hội có điểm chung, thống nhất, nhưng cũng có những điểm khác biệt. Vì vậy, việc tăng cường sự đoàn kết nhất trí trước hết phải xuất phát từ xây dựng cơ chế, chính sách đúng đắn, đảm bảo lợi ích chính đáng của các giai cấp và tầng lớp trong xã hội, bên cạnh việc động viên, cổ vũ.
Nghị quyết nêu 3 định hướng chính sách chung và những định hướng chính sách cụ thể đối với từng giai cấp và tầng lớp trong xã hội.
a. Định hướng chính sách chung
Một là phát triển mạnh mẽ nền kinh tế nhiều thành phần, lấy phát triển kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân là nhiệm vụ trung tâm; gắn tăng trưởng kinh tế với tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái trong từng bước phát triển; đẩy mạnh xóa đói, giảm nghèo, khuyến khích làm giàu chính đáng. Tổ chức việc kết nghĩa, giúp đỡ nhau giữa các vùng, các địa phương có kinh tế phát triển với vùng nghèo, miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Hai là phát triển văn hóa, y tế, giáo dục - đào tạo, khoa học công nghệ, phấn đấu nâng dần độ đồng đều về trình độ dân trí, văn hóa và mức độ hưởng thụ, chăm sóc sức khỏe của nhân dân các vùng trong nước; giữ gìn và phát huy văn hóa truyền thống tốt đẹp của từng dân tộc; xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc của cộng đồng các dân tộc Việt Nam.
Ba là phát huy dân chủ, giữ gìn kỷ cương; đẩy mạnh đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, đặc quyền, đặc lợi; thực hiện phương châm "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra", coi trọng vai trò của nhân dân trong đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.
b. Định hướng chính sách đối với các giai cấp, tầng lớp xã hội.
- Đối với giai cấp công nhân:
- Đối với giai cấp nông dân:
- Đối với đội ngũ trí thức:
- Đối với thanh niên:
- Đối với phụ nữ:
- Đối với cựu chiến binh:
Phát huy bản chất, truyền thống "Bộ đội Cụ Hồ", tích cực tham gia xây dựng và bảo vệ Đảng, chính quyền, chế độ xã hội chủ nghĩa; giúp nhau cải thiện đời sống, xóa đói giảm nghèo; góp phần giáo dục truyền thống và chủ nghĩa anh hùng cách mạng cho thế hệ trẻ; là chỗ dựa tin cậy của Đảng và chính quyền cơ sở.
- Đối với người cao tuổi:
- Đối với các nhà doanh nghiệp:
- Đối với các dân tộc thiểu số:
- Đối với đồng bào các tôn giáo:
- Đối với cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài:
2. Phát huy mạnh mẽ vai trò của chính quyền Nhà nước trong việc thực hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc.
Thực hiện giải pháp này, Nghị quyết nêu lên ba nội dung lớn sau:
a. Về phát huy dân chủ:
- Không ngừng hoàn thiện các cơ chế dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện.
- Tiếp tục hoàn thiện và thực hiện tốt Quy chế dân chủ ở cơ sở, cụ thể hóa để thực hiện phương châm "Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra" trong tất cả các loại hình tổ chức và đơn vị thuộc các cấp, các ngành, kể cả trong các cơ quan Đảng, Mặt trận và các đoàn thể nhân dân.
- Khắc phục mọi biểu hiện vi phạm dân chủ, coi nhẹ dân chủ hoặc dân chủ hình thức.
- Phát huy dân chủ đồng thời đề cao pháp luật, kỷ luật, kỷ cương trong toàn xã hội.
b. Hoạt động của các cơ quan nhà nước phải lấy việc phục vụ nhân dân lên trên hết, giải quyết đúng đắn và nhanh chóng các công việc có quan hệ trực tiếp đến đời sống nhân dân; thực hiện đúng đắn chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc của Đảng.
- Nhà nước có cơ chế phối hợp và bảo đảm các điều kiện cần thiết để Mặt trận và các đoàn thể nhân dân phản ánh trung thực tâm tư, nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân; tích cực tham gia xây dựng chủ trương, chính sách, pháp luật; tập hợp, động viên nhân dân đồng tâm, hiệp lực thực hiện thắng lợi những chủ trương, nhiệm vụ Nhà nước; đồng thời làm tốt vai trò giám sát đối với các cơ quan nhà nước, đại biểu dân cử, cán bộ, công chức, góp phần xây dựng và bảo vệ chính quyền trong sạch, vững mạnh.
- Đối với những vấn đề lớn và đặc biệt quan trọng của đất nước, cần có những hình thức thích hợp để nhân dân tham gia ý kiến. Trước khi ban hành những chủ trương, chính sách quan trọng, cần tổ chức chu đáo, thiết thực việc lấy ý kiến các tầng lớp nhân dân có liên quan, bảo đảm để nhân dân có thể thẳng thắn bày tỏ được ý kiến đóng góp. Khuyến khích trao đổi, tranh luận những vấn đề có ý kiến khác nhau, tránh chụp mũ, áp đặt.
c. Nhà nước chăm lo đào tạo, bồi dưỡng chính trị, nghiệp vụ, giáo dục đạo đức cho cán bộ chính quyền các cấp. Xây dựng phong cách và phương thức công tác của cán bộ, công chức phù hợp với đạo đức cách mạng và đáp ứng yêu cầu tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc.
- Giáo dục cán bộ, công chức xây dựng và thực hành phong cách "trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân và có trách nhiệm với dân", "nghe dân nói, nói dân hiểu, làm dân tin".
- Cán bộ, công chức phải có thái độ chân thành, tôn trọng dân, hướng dẫn và giúp đỡ nhân dân; không thành kiến, phân biệt đối xử khi làm việc với dân.
- Bổ sung, hoàn chỉnh Pháp lệnh cán bộ, công chức, chú ý phát huy vai trò giám sát của nhân dân đối với hoạt động của cán bộ, công chức.
- Thực hiện phương thức dân chủ trong lãnh đạo và quản lý điều hành, khắc phục lối làm việc mệnh lệnh, hành chính đơn thuần.
3. Mở rộng và đa dạng hóa các hình thức tập hợp nhân dân, nâng cao vị trí, vai trò Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân trong việc thực hiện đại đoàn kết dân tộc.
a. Mở rộng Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Đa dạng hóa các hình thức tập hợp nhân dân.
b. Phát huy vai trò của Mặt trận và các đoàn thể nhân dân.
4. Tăng cường công tác chính trị, tư tưởng, nâng cao trách nhiệm công dân, xây dựng sự đồng thuận xã hội, đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước.
a. Đa dạng hóa các hình thức tuyên truyền, mở rộng và nâng cao chất lượng giáo dục truyền thống yêu nước, trách nhiệm công dân, đạo đức xã hội, đạo đức nghề nghiệp trong nhân dân. Giáo dục ý thức chăm lo xây dựng khối đoàn kết thống nhất trong Đảng và trong nhân dân, xây dựng sự đồng thuận xã hội và đề cao ý thức cộng đồng trách nhiệm.
Củng cố và tăng cường các tổ chức làm công tác chính trị - tư tưởng. Phát huy vai trò tích cực của các phương tiện thông tin đại chúng, các loại hình văn hóa, nghệ thuật, coi trọng xây dựng và tạo điều kiện cần thiết cho lực lượng tuyên truyền miệng, nhất là ở các vùng dân tộc thiểu số và vùng đồng bào có đạo, các trung tâm dân cư lớn, vùng sâu, vùng xa. Mặt trận và các đoàn thể nhân dân cần có kế hoạch vận động, giáo dục bồi dưỡng ý thức giác ngộ chính trị cho đoàn viên, hội viên và nhân dân.
b. Phát động sâu các phong trào thi đua yêu nước. Thực hiện tốt các cuộc vận động về từng lĩnh vực cụ thể và cuộc vận động chung: "Toàn dân đoàn kết phấn đấu vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh", tập trung vào các vấn đề:
- Xây dựng phong trào toàn dân thi đua làm kinh tế giỏi, làm giàu hợp pháp, từng gia đình làm giàu cho mình, cho cộng đồng, cho đất nước; xóa đói, giảm nghèo, phấn đấu hàng năm có thêm nhiều đơn vị, địa phương không còn hộ nghèo.
- Tiếp tục thực hiện tốt phong trào "Toàn dân xây dựng đời sống văn hóa" và các cuộc vận động ngăn chặn, đẩy lùi các hiện tượng tiêu cực, tệ nạn xã hội và "văn hóa phẩm" độc hại.
- Xây dựng phong trào "cả nước trở thành một xã hội học tập", "học tập suốt đời", trước hết trong cán bộ, đảng viên và thế hệ trẻ.
- Tôn vinh người tốt, biểu dương việc tốt; bồi dưỡng và nhân rộng các điển hình tiên tiến; lên án, phê phán, đấu tranh chống tệ quan liêu, mất dân chủ, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, những hành động coi thường kỷ luật, dân chủ cực đoan, lợi dụng dân chủ để vi phạm pháp luật.
Các phong trào thi đua yêu nước trong nhân dân phải đạt cả về 3 mặt: hiệu quả về kinh tế, hiệu quả về giáo dục và xây dựng con người, hiệu quả về xây dựng tổ chức./.
+++++++++++++++++++++++++++++++
Cơ sở nhà đất 31 Nguyễn Huệ của DCCT đang bị bọn cướp ngày san bằng
(ảnh chụp hôm 1-7-2003)