Vụ Án Công Giáo |
Đấu tranh cho tự do tôn giáo tại Giáo phận Huế
Bản tin ngày 16-01-2004
1. CỘNG SẢN ĐÀN ÁP GIÁO XỨ KẾ SUNG, HUẾ
Kế Sung là một giáo xứ hiện diện cả trăm năm nay trong Tổng Giáo phận Huế và hiện thuộc xã Phú Diên, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế. Giáo xứ nằm cạnh trục lộ 49B chạy từ Thuận An về, thuộc địa sở Cự Lại, do cha Phaolô Đặng Văn Nam (sinh năm 1960, chịu chức 29-6-2001) làm quản xứ. Số giáo hữu gồm 323 người, đa số ở xa nhà thờ Kế Sung.
1- Tháng 4/2003 ban lãnh đạo xã Phú Diên mời Hội đồng Giáo xứ đến Ủy ban Nhân dân xã làm việc để thông báo quyết định làm đường băng qua đất sân nhà thờ. Đây sẽ là đường thôn, bằng bê-tông. Nguyên từ lâu đã có một đường mòn bị Nhà thờ chắn ngang giữa. Nay chính quyền muốn đổ bê-tông lên đó và để nối hai chỗ tiếp giáp sân nhà thờ, sẽ làm một đường vòng cung ra phía trước (vì sau nhà thờ là độn cát), ngang qua đất sân nhà thờ, chỉ cách mặt tiền nhà thờ 4 mét thôi (xin xem hình). Cha quản xứ và giáo dân không bằng lòng và đề nghị ở hai chỗ tiếp giáp, hãy bẻ góc vuông, chạy dọc theo sân nhà thờ, ra đường quốc lộ 49B, vốn chỉ cách đó 32 mét. Và thật ra chỉ bẻ góc phía trái sân, vì phía phải đã có những tấm bê-tông giáo xứ làm lâu rồi.
Giáo xứ đã trao đổi nhiều lần với ban lãnh đạo huyện, xã. Thế nhưng chính quyền đã quyết tâm dùng bạo lực tiến hành làm đường bê-tông băng qua sân nhà thờ giáo xứ.
2- Ngày 05-01-2004, lúc 5 giờ sáng, chính quyền cho chở vật liệu đổ vào sân nhà thờ. Cha Nam đề nghị công an thôn và thôn trưởng Kế Sung ngưng làm. Nhưng xe trâu chở cát sạn vẫn tiếp tục đổ trước nhà thờ. Vị linh mục kiên trì đối thoại.
Lúc 9g30 ông Chủ tịch Mặt trận xã lên tại sân nhà thờ đọc bản quyết định của Ủy ban Nhân dân huyện Phú Vang, hạ lệnh làm đường ngang qua sân nhà thờ và ai cản trở thì nghiêm trị. Chính quyền dùng bạo lực trả lời cho đối thoại !
13g30 các xe trâu ung dung chở thêm cát sạn đổ vào sân nhà thờ.
Quá bức xúc trước hành động chà đạp công lý, đàn áp giáo xứ, dùng bạo lực khống chế giáo dân nhà quê nghèo khổ, ít ỏi, đơn độc, nhiều bà mẹ giáo xứ nhảy vào la hét, cản trở. Thế là lực lượng du kích thẳng tay đàn áp thô bạo.
16g, chủ tịch xã tống giấy gọi cha Nam và 4 bà Nguyễn Thị Hương, Nguyễn Thị Mỹ Linh, Trương Thị Gẫm, Nguyễn Thị Khả đến trụ sở xã làm việc vào lúc 7g30 ngày 06-01-2004.
3- Ngày 06-01-2004, lúc 5 giờ sáng, chính quyền huy động toàn bộ lực lượng du kích, cán bộ phụ nữ, cựu chiến binh, đảng viên hưu, một số dân lên sân nhà thờ. Số giáo dân quanh nhà thờ khoảng 20 người đối diện với lực lượng 100 người. Cuộc xô xát bùng nổ. Tiếng kêu gào vang lên. Cha Nam bị một anh bà con với bí thư xã đánh vào mặt. Chiếc máy ảnh của ngài văng xuống cát. Sân nhà thờ còn phủ cát vùng biển thế mà máy bị móp méo, hết sử dụng được. Cú tát vào mặt phải mạnh lắm! Còn các bà giáo dân thì bị lực lượng phụ nữ lôi kéo đi.
Lực lượng đàn áp hùng hổ lật bỏ một số tấm xi măng lót đường từ ngoài quốc lộ 49B vào nhà thờ của giáo xứ (dọc bên phải sân) rồi căng dây đổ cát sạn, xi-măng làm đường.
Cha Nam và 4 bà giáo dân đi về xã làm việc. Chủ tịch xã ngang nhiên khẳng định vẫn tiến hành làm đường, muốn kiện đâu thì cứ kiện.
8g30, Linh mục Hạt trưởng Hương Phú, Phêrô Nguyễn Hữu Giải và linh mục quản xứ Thần Phù, Phaolô Trần Thắng Thế, lúc đó đang dự khóa thường huấn linh mục tại Nhà chung Giáo phận, đã thay mặt Đức TGM Têphanô Nguyễn Như Thể, chạy xe như bay về sân nhà thờ Kế Sung. Đúng là cảnh bầy sói ăn thịt chiên lành. Một nhóm bà mẹ và trẻ em giáo dân, kẻ đứng người ngồi, nức nở sụt sùi trong đau khổ và bất lực.
Tại tiền đường nhà thờ, đám tay chân chính quyền xông xáo trộn cát sạn, đổ bê-tông. Hai linh mục, mặc áo chùng thâm, đại diện giáo quyền bước vào hiện trường. Cha Giải yêu cầu dừng tay và xin gặp ai là người chỉ huy ở đó. Một màn đối thoại bốp chát nổ ra:
- Chúng tôi làm thuê, không ai chỉ huy cả !
- Đây là sân nhà thờ !
- Đây là đất làng !
- Đất đang tranh chấp, không được phép làm gì trên đó !
- Làm đẹp làng văn hóa !
- Cha sở và giáo dân ở đây đang làm việc tại xã, chờ quyết định !
- Cứ làm !
- Chúng tôi bảo vệ sân nhà thờ !
- Tránh ra !
- Đây là đất nhà thờ !
- Cứ làm ...
Hai linh mục quyết tâm không cho. Thế là các cô cậu du kích được lệnh xúc sạn, cát, xi-măng tạt vào hai linh mục. Áo chùng thâm đổi màu trắng xám. Có cậu còn lấy vòi nước xịt thẳng vào hai vị. Hai vị cứ đứng yên tại chỗ. Một bao xi-măng quăng mạnh dưới chân cha Hạt trưởng. Một du kích cầm xên bổ mạnh nhiều lần xuống bao xi-măng, sát trước mặt cha. Sơ hở một chút, mặt cha sẽ bị chẻ làm đôi tức thì. Nhiều du kích chen vào, cố dùng sức trẻ lấn hai cha ra nơi khác để đổ bê-tông chỗ đường chưa làm xong. Hai cha vui lòng chịu trận nhục hình suốt cả tiếng đồng hồ, lãnh nào cát, sạn, xi-măng, vòi nước, nào xô lấn, hét la, chửi rủa, văng tục.
Cha Thế có một lúc đi vòng ra sân cát chụp cảnh đàn áp của chính quyền. Một phụ nữ liền bám riết cha, dùng nón che máy ảnh. Đang khi đó một cán bộ xã ung dung chụp hiện trường, tìm cơ hội bắt tội hình sự giáo dân về sau. Hai cha vẫn hiền lành lặp đi lặp lại đây là sân nhà thờ, chính quyền làm sai pháp luật.
Đột nhiên, một thanh niên đứng cách cha Hạt trưởng chừng mét, giương cao chiếc xên, miệng hét to: Có đi ra không? Cha nhìn thẳng vào mặt anh ta, mỉm cười. Sợ cha bị đánh vào đầu, ông Nguyễn Ngọc Ánh, phó chủ tịch Hội đồng Giáo xứ, nhanh chóng nhảy vào xô tên du kích ra xa. Ông bị lực lượng du kích khóa tay ngay lại. Con gái ông, cô Nguyễn Thị Thu Hà, chạy vào cứu cha, liền bị hai phụ nữ đánh đập túi bụi.
Thấy cảnh xô xát căng thẳng, cha Hạt trưởng nhờ cha Thế điện thoại cho thiếu tá Trần Hồng Lam, công an tỉnh đặc trách Công giáo. Ông Lam hứa cho nhân viên về. Nhưng đợi mãi chẳng thấy “bạn dân” nào về chứng kiến. Điện thoại lại nhiều lần, bóng dáng công an tỉnh hoặc huyện cũng chẳng thấy đâu! Đến 12 giờ trưa, cha Thế gọi lại ông Lam lần nữa, nhưng chẳng ai nhận điện thoại! Hết biết!
Cha Nam hốc hác và 4 bà giáo dân nén giận từ trụ sở xã về lại sân nhà thờ, thấy con đường bê-tông đã làm xong (lúc 10 giờ). Ba chiếc áo chùng thâm bê bết vữa xi-măng, đầu để trần, vẫn đứng trên con đường bê-tông để tiếp tục phản đối việc đàn áp tự do tôn giáo của chính quyền cộng sản. Các vị nói thật to, cốt để cho đám chính quyền, công an, mặt trận, du kích đang liên hoan ăn mừng trong ngôi nhà ông trưởng thôn sát kề đó nghe được.
Trời nắng nóng, thật hiếm thấy vào tiết tháng chạp ở Huế. Giữa thanh thiên bạch nhật, tội ác vẫn ung dung diễn ra. Cường quyền cộng sản đã thành công! Bạo lực vô sản đã chiến thắng! Một kế hoạch thông minh, một phối hợp tuyệt diệu đã hoàn tất mỹ mãn! Đám 20 tên dân ngu khu đen làm sao đương cự nổi với lực lượng 100 người của ta, trang bị gậy gộc, súng ống, xên cuốc và quyền lực được! Ôi đảng vinh quang muôn đời bách chiến bách thắng!
Đoàn giáo dân nhỏ bé nghèo hèn tiếp tục thân phận cỏ dưới đá, chiên trước sói rừng.
Linh mục Hạt trưởng và hai linh mục thuộc hạt Hương Phú, Tổng Giáo phận Huế, lực bất tòng tâm, thân hình tơi tả, ngậm đắng nuốt cay, khóc cho đàn chiên bị thú dữ dày xéo. Đức Tổng Giám mục Huế đau lòng xót ruột kêu lên: Luật rừng rú!
Chúng tôi xin gởi đến Quý vị bài phóng sự này về tội ác mới của cộng sản như một bằng chứng để chờ ngày đưa những tên tội phạm đàn áp dân lành ra trước công lý. Chúng tôi cũng xin gởi tới Quý vị số điện thoại của những người liên hệ trong vụ việc, để ai muốn thì có thể hỏi thăm :
- Cha Phêrô Nguyễn Hữu Giải : 054.861.952 (xin nhắn)
- Cha Phaolô Đặng Văn Nam : 054.867.751; email: pmdangnam@pmail.vnn.vn
- Cha Phaolô Trần Thắng Thế : 954.861.108; email: thangthe@pmail.vnn.vn
- Ủy ban Nhân dân xã Phú Diên: 054.860.202
- Công an huyện Phú Vang: 054.822.492
- Ủy ban Nhân dân huyện Phú Vang: 054.823.083
- Ủy ban MTTQVN huyện Phú Vang: 054.823.048
Nhóm phóng viên tường trình từ Huế
Phỏng vấn Linh mục Hạt trưởng Phêrô Nguyễn Hữu Giải
H. Thưa cha, trong vụ Kế Sung, sao không thấy giáo dân tụ họp đông đảo ở nhà thờ ?
Đ. Cha Nam quản xứ, vốn đặt trụ sở ở Cự Lại, thông cảm với số phận bị đàn áp thường xuyên của giáo dân Kế Sung, chẳng có ai bên cạnh bênh vực, nên đã bảo họ tránh tập trung đụng đầu với cộng sản. Chỉ có một nhóm mấy bà khá tự chủ ra mặt đương đầu. Cha ấy là linh mục trẻ, mới làm quản xứ, rất hiền lành dịu dàng. Ngài muốn chịu khổ thay cho đoàn chiên.
H. Chính quyền điều động thành phần nào đến mở đường đi băng ngang sân nhà thờ ?
Đ. Theo như cha Nam cho biết, đó là những cán bộ trẻ, các cô cậu du kích, mấy ông đảng viên cộng sản về hưu và một số người lớn. Ba thành phần đầu hung hăng, xông xáo, nhập cuộc vào hiện trường. Cán bộ xã đứng ngoài chỉ huy, ra lệnh theo hoàn cảnh. Nhưng khi tôi hỏi ai ra lệnh mở đường ngang sân nhà thờ, đa số lại nói họ là dân làng, làm thuê, không biết ai chỉ huy ra lệnh.
H. Khi hai cha đến sân nhà thờ thì bị phản ứng ra sao ?
Đ. Khi chúng tôi bước vào nơi đang làm đường bê-tông và yêu cầu ngừng lại, thì số người lớn dừng tay rút ra khỏi sân nhà thờ. Nhưng số du kích cán bộ trẻ vẫn tiếp tục. Sau đó số người lớn bị thúc đẩy lại nhảy vào làm tiếp. Rõ ràng dân chúng bị ép buộc làm việc sai trái này. Chúng ta cần thông cảm cho người dân thấp cổ bé miệng ở nông thôn nghèo nàn. Chính quyền cộng sản mới là kẻ tội phạm.
H. Cha nói gì với họ ?
Đ. Tôi nói to cho mọi người nghe : đây là sân nhà thờ, đất đang tranh chấp, không được làm gì trên đó, bà con đừng vi phạm pháp luật. Với các cô cậu du kích trẻ, tôi khuyên: anh chị còn trẻ, đời còn dài, tránh làm việc ác, gắng làm việc thiện; chính quyền làm sai, anh chị đừng a dua theo, tôn trọng lương tâm mình.
H. Quý Cha bị làm nhục như thế nào ?
Đ. Chúng tôi mặc áo chùng thâm linh mục rõ ràng, nhưng mấy cô cậu du kích, công an chẳng vị nể gì cả. Hơn một tiếng đồng hồ giữa trời nắng, cho tới khi làm xong đường bê-tông, chúng tôi liên tục bị mấy cô cậu xúc cát, sạn, xi-măng tạt vào người, lấy vòi nước xịt toàn thân. Vài phụ nữ thì la hét, xô lấn. Hai ba ông già, chắc là đảng viên về hưu, lớn tiếng đốc thúc: đây là đất thôn, cứ làm!
Không biết các cô cậu này được đào tạo như thế nào mà chẳng kính trên nhường dưới, chẳng coi trọng các bậc tu trì gì cả. Tại Việt Nam, truyền thống đạo đức là kính thầy dạy, thầy chùa, thầy đạo. Phải chăng đây là đạo đức mới xã hội chủ nghĩa ?
Lăng nhục một con người dài giờ như vậy mà vẫn chẳng động lòng mảy may, không hiểu cộng sản khuôn đúc người trẻ dân tộc ta thành thứ gì ? Nhà đạo đức thi sĩ nào đó đã nói:
“Hết phần Người, chỉ nguyên vẹn là Con.
Cái Con này, ác-hơn-mọi-thứ con.
Con sống đó nhưng phần Người đã chết.
Để cho ai chỉ suốt đời chăm chút
Lo phần Con mà quên hẳn phần Người.”
Buồn và đáng lo cho tiền đồ dân tộc Việt Nam vậy !
H. Nghe nói Quý Cha bị đúc bê-tông hai chân xuống đường ?
Đ. Cha Nam chạy lui chạy tới, áo dòng đen lốm đốm trắng xi-măng. Ngài lo can ngăn giáo dân, khuyên họ chấp nhận ngồi yên cạnh nhà thờ, sợ họ bị chính quyền CS hành hạ sau nầy. Năm cùng tháng tận, ngày Tết sắp đến gần mà phải đi “làm việc” (=thẩm vấn), bị giam cầm ... thì khốn khổ cho bản thân và cả gia đình lắm. Bị tát vào mặt, cha Nam đã muốn đau khổ thay cho giáo dân.
Cha Thế thì đứng yên một chỗ, nên đôi chân ngài có lúc bị đổ bê-tông. Nếu ở yên được như vậy, chắc cha Thế cứ đứng mãi. Nhưng các cô cậu du kích đã xô lấn ngài dịch ra nơi khác.
Còn tôi lúc ấy lại nghĩ tới Mậu Thân 1968, nhớ Cha Bửu Đồng, một số thầy đại chủng viện (bạn cùng lớp với cha Lợi), một số thầy dòng La-san đã bị Việt cộng chôn sống tại vùng cát Viễn Trình huyện Phú Vang Huế. Vùng này hiện đang thuộc địa sở của tôi, Lương Văn - Hòa Đa - Ba Châu. Giáp Thân sắp tới rồi. Tôi rùng mình mỗi lần nghe vọng lên tiếng năm Thân.
H. Đức Cha phản ứng thế nào ?
Đ. Lúc 12g30 ngày 06-01-04, Đức Cha gọi điện thoại gặp chúng tôi. Cha Nam tường thuật sơ lược cuộc đàn áp của cộng sản. Tôi trình bày tiếp. Đức Cha bức xúc nói mạnh trong điện thoại: “Luật rừng rú!”, dù thừa biết nhà nước và công an luôn nghe lén, ghi âm điện thoại. Đức Cha yêu cầu cha Nam ghi lại chi tiết vụ việc, trình ngài để ngài làm việc với nhà nước.
Vào thời điểm này (5-7.01.04), tất cả các linh mục Giáo phận Huế đang có mặt tại Nhà chung dự khóa thường huấn linh mục. Đức Cha rất đau lòng và quyết tâm đòi công lý. Ngài xin các cha cầu nguyện và bình tĩnh. Ngài sai phái 3 linh mục đến gặp Ban Tôn giáo tỉnh Thừa Thiên Huế, yêu cầu giải quyết công bình vụ việc.
Hôm 8-01-04, đại diện các Hội đồng giáo xứ trong toàn Giáo phận về chúc tết Đức Cha, khoảng 200 vị. Đức Cha đã chia sẻ tâm tình bức xúc của ngài về vụ chính quyền đàn áp giáo dân Kế Sung.
Toàn thể linh mục và các vị đại diện Hội đồng giáo xứ trong Giáo phận đều phản đối chính quyền CS dùng bạo lực thực hiện ý đồ bất công đối với giáo xứ Kế Sung, chà đạp nhân quyền và tự do tôn giáo.
H. Giáo dân Kế Sung phản ứng thế nào ?
Đ. Đương nhiên giáo dân vẫn luôn cầu nguyện cho kẻ thù, đem yêu thương vào nơi thù oán, nhưng lòng không thể chấp nhận bất công.
Cảnh nhóm mấy bà và trẻ em ủ rũ trước bạo lực, cảnh giáo dân nam mắt đẫm lệ nhìn cha xứ bị đánh, nhìn đường bê-tông ngang nhiên chạy băng sân nhà thờ, cảnh một bà lão lom khom đi ngang sân, bước lên đường bê-tông bị một cán bộ mắng: bà chống làm đường sao giờ lại bước đi trên đường. Những cảnh cam chịu não lòng ấy chẳng phải là hình ảnh đích thực của một chế độ đàn áp con người, của một chính quyền cướp bóc nhân dân, của một đảng vô thần quyết tâm tiêu diệt tôn giáo sao ? Ai giải thoát họ ???
Tường trình của linh mục Đặng Văn Nam về sự biến Kế Sung
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---O---
Kính gửi :
Hội đồng Nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế.
Ủy ban Nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế.
Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Thừa Thiên Huế.
Ban Tôn giáo tỉnh Thừa Thiên Huế
Sở Công an tỉnh Thừa Thiên Huế
Tôi tên là Linh mục Đặng Văn Nam, Quản xứ Địa sở Cự Lại, kính trình Quý Cơ quan một việc như sau:
Vào ngày 07 tháng 4 năm 2003, ban lãnh đạo xã Phú Diên đã mời đại diện Hội đồng Giáo xứ Kế Sung đến Ủy ban Nhân dân xã Phú Diên, để trao đổi việc Ủy ban Nhân dân xã quyết định làm đường băng qua sân Nhà thờ Kế Sung, chỉ cách tam cấp Nhà thờ 4 mét. Đại diện của Giáo xứ, theo sự thống nhất của Linh mục Quản xứ là tìm giải pháp ôn hòa để trao đổi, vì lợi ích chung và trong tinh thần đoàn kết, xây dựng quê hương.
Chúng tôi khẳng định rằng con đường đi băng trước Nhà thờ là có phần ích lợi chung cho mọi người. Thế nhưng, nếu xét theo hoàn cảnh cụ thể của bà con tín hữu chúng tôi, thì nó lại có tác hại nhiều hơn so với lợi ích :
Có lợi là có thêm con đường cho nhân dân đi lại. Nhưng phần có hại là :
Về việc làm đường, chúng tôi đã trao đổi nhiều lần với lãnh đạo huyện, xã, chẳng hạn ngày 19-5-2003, ngày 27-5-2003, ngày 28-5-2003, ngày 26-9-2003, ngày 29-9-2003, ngày 3-11-2003... và chúng tôi đã đề nghị mở con đường bê-tông đó, đến Nhà thờ bẻ góc vuông ra đường Quốc lộ 49B, để tránh những điều tác hại trên đây, nhất là tránh chuyện tranh chấp và lấn đất Nhà thờ, gây ra sự rạn nứt đoàn kết giữa Công giáo với chính quyền địa phương.
Nhất là gần đây, vào ngày 23-12-2003, ông Chủ tịch Ủy ban Nhân dân huyện Phú Vang đến mừng lễ Giáng sinh tại nhà xứ Cự Lại, tôi có kiến nghị, xin ông xem xét lại việc làm con đường trước Nhà thờ Kế Sung. Lúc đó, ông Chủ tịch nói rằng sẽ gặp lại Linh mục sau. Nhưng cho đến nay, tôi vẫn chưa nghe ông trả lời gì cả.
Thế mà, vào ngày 05-01-2004, lúc 5 giờ sáng, chúng tôi đã thấy vật liệu làm đường tại sân Nhà thờ. Vì vậy, tôi và các tín hữu đề nghị ông Nguyễn Văn Lai, công an thôn Kế Sung và ông Lê Viết Kế, trưởng thôn Kế Sung, ngưng đổ vật liệu, vì đất đường này còn đang khiếu nại. Ông Lai không đồng ý và nói với những người chở cát thuê rằng cứ đổ đi, coi ai làm gì cho biết. Tôi và các tín hữu ngăn cản, nhưng họ vẫn tiếp tục đổ.
Lúc 9g30, ông Tấn, chủ tịch Mặt trận xã Phú Diên lên tại sân Nhà thờ đọc bản quyết định của Ủy ban Nhân dân huyện Phú Vang về việc làm con đường này. Nhưng trên thực tế, bản quyết định này do ai ban hành, ban hành ngày nào, chúng tôi không hề hay biết và cũng chưa nhận được quyết định này, ngay từ khi bắt đầu làm con đường cho đến bây giờ. Sau khi nghe đọc bản quyết định, tôi xin bản quyết định đó, nhưng ông Tấn nói rằng tôi về Ủy ban Nhân dân trao đổi, rồi sẽ điện thoại cho Linh mục sau. Tôi chờ đợi mãi, nhưng vẫn không nghe ông trả lời, cho đến bây giờ vẫn chưa nhận được.
Đến 13g30, ông Lê Đức Thông, địa chính xã Phú Diên, cùng với ông Kế và ông Lai gọi ba xe trâu đến để chở cát sạn vào sân Nhà thờ. Khi đó, tín hữu yêu cầu họ phải chờ Linh mục Quản xứ về hiện trường, nhưng họ vẫn cứ đổ. Ông Thông nói rằng để tao đổ coi ai dám làm gì, và ông còn nói tiếp rằng mấy bà cứ rán sức mà làm, có chuyện gì, Linh mục không đỡ cho mấy bà đâu. Các tín hữu nói rằng vì các ông áp bức quá, nên chúng tôi phản kháng. Cùng lúc đó, các tín hữu lấy xên không cho họ tiếp tục xúc sạn, thì ông Thông, ông Lai, ông Kế và ông Huynh liền huy động lực lượng du kích để áp bức các tín hữu đang phản kháng. Do đó, có sự xô xát căng thẳng.
Cho đến 16g, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân xã Phú Diên, là ông Nguyễn Văn Uýnh, gởi giấy mời tôi và bốn tín hữu là bà Nguyễn Thị Hương, bà Nguyễn Thị Mỹ Linh, bà Trương Thị Gẫm, bà Nguyễn Thị Khả đến Ủy ban Nhân dân xã để giải quyết chuyện làm đường trên sân Nhà thờ vào ngày 06-01-2004, lúc 7g30.
Thế mà sáng ngày 06-01-2004, lúc 5g thì đa số cán bộ xã, thôn đã huy động toàn bộ lực lượng du kích, cán bộ phụ nữ, cựu chiến binh và một số dân đến sân Nhà thờ để làm đường. Chúng tôi cản ngăn và nói rằng sáng nay, ông Chủ tịch xã mời chúng tôi về xã để trao đổi và giải quyết. Vậy chúng tôi đề nghị ông Thông, ông Lai, ông Kế, ông Huynh ra lệnh ngưng ngay việc làm đường, để chúng tôi đến xã giải quyết cho ổn thỏa đã. Nhưng các vị đó cố chấp và không đồng ý với lời đề nghị của chúng tôi, rồi thúc đẩy mọi người tiếp tục tiến hành làm đường. Họ tự ý dẹp bỏ một số tấm xi-măng lót đường vào Nhà thờ, khi đó chúng tôi ngăn cản và sự việc lại tiếp tục xảy ra va chạm. Có ông Lê Viết A, bà con với ông Thông và ông Bí thư Ủy ban Nhân dân xã, đã đánh vào mặt tôi; và khi thấy có hai linh mục đến nữa, anh ta cũng muốn tiến đến đánh, nhưng có người tín hữu cản lại, còn cán bộ bảo lực lượng phụ nữ lôi kéo tín hữu đang ngăn cản việc làm đường. Cuộc xô xát lại căng thẳng thêm.
Lúc 8g00, chúng tôi về Ủy ban Nhân dân xã theo lời mời và cũng mong gặp ông Chủ tịch xã để trao đổi cho thỏa đáng.
Trong lúc đó, cán bộ xã, thôn vẫn tiến hành làm đường. Lúc 8g15, tại Ủy ban Nhân dân xã, tôi và bốn tín hữu được gặp ông Chủ tịch xã và ông Bí thư. Tôi nêu rõ lập trường rằng chúng tôi không chống pháp luật, nhưng chống việc làm sai sót của cán bộ xã, thôn :
Phần chúng tôi, chúng tôi khẳng định đất trước Nhà thờ là của Họ giáo chúng tôi.
Tôi thắc mắc với ông Chủ tịch xã rằng tại sao đất đang còn tranh chấp lại dùng áp lực tiến hành theo ý của xã. Đàng khác, tôi không hiểu cách làm việc của Ủy ban Nhân dân xã, một mặt vừa mời chúng tôi về Ủy ban Nhân dân xã để giải quyết vấn đề về sự tranh chấp đất đai, lại một mặt vừa cho cán bộ tiến hành việc làm đường thuộc phần đất đang tranh chấp.
Tôi không hiểu lý do vì sao trong khi có cuộc xô xát căng thẳng mà hai vị lãnh đạo cao cấp của xã lại không có mặt tại hiện trường. Phải chăng là không có trách nhiệm hay đã giao toàn quyền cho ông Thông, ông Lai, ông Kế và ông Huynh rồi ?
Cũng tại Ủy ban Nhân dân xã, ông Chủ tịch nói với bốn bà tín hữu rằng các bà muốn kiện ở đâu thì đi kiện đi.
Trong lúc đó, tại sân Nhà thờ, có Linh mục Nguyễn Hữu Giải, Quản hạt và Linh mục Trần Thắng Thế đã đến hiện trường và hỏi giữa đám đông: xin cho biết ai chỉ đạo làm con đường này? Thì cán bộ xã, thôn không ai trả lời, chỉ có anh Nguyễn Văn Mạnh, tự xưng là công an, chủ trì ở đây. Linh mục Quản hạt nói rằng anh là công an thì cho tôi hỏi vài vấn đề. Anh ta liền lánh đi chỗ khác. Sau đó, hai Linh mục không cho tiếp tục làm đường. Cán bộ xã, thôn huy động lực lượng và phụ nữ vây quanh hai linh mục rồi hất đá, xi-măng và xịt nước lên người hai linh mục. Lúc đó, anh Nguyễn Văn Mạnh giáng cái xên lên cao để đánh Linh mục Quản hạt, tức thì có ông Nguyễn Ngọc Ánh, phó chủ tịch Hội đồng Giáo xứ Kế Sung vào can, vì sợ anh ta đánh vào đầu của Linh mục, dễ gây ra án mạng, nhưng lực lượng du kích liền khóa tay ông lại. Thấy sự việc như thế, người con gái của ông, là cô Nguyễn Thị Thu Hà, chạy đến kéo ông ra, thì cũng bị đánh đập bởi cô Nguyễn Thị Vui và vợ ông Hải, ở đội 5. Tôi từ xã lên hiện trường, thấy cảnh xô xát nhau quá căng thẳng.
Lúc đó, Linh mục Quản hạt thấy cảnh xô xát nhau quá căng thẳng, nên đã cùng Linh mục Trần Thắng Thế điện thoại gọi ông Lam, công an tỉnh đặc trách Công giáo. Nhiều lần, ông Lam nói sẽ báo cho công an huyện Phú Vang về. Nhưng chờ đợi mãi vẫn không thấy ai về, nóng lòng quá Linh mục Quản hạt liền gọi điện thoại lại, nhưng cũng chẳng thấy bóng dáng tăm hơi công an đâu cả. Vậy là ba anh em Linh mục chúng tôi phải đợi đến 12 giờ trưa, gọi điện thoại lại cho ông Lam một lần nữa, nhưng không ai nhận điện thoại.
Chúng tôi “lực bất tòng tâm” trong việc tìm kiếm cấp trên. Vì vậy, chúng tôi khuyên tín hữu bình tĩnh chờ đợi, để cấp trên giúp đỡ giải quyết hầu tránh ẩu đả và nhất là để tránh sự rạn nứt tình đoàn kết giữa những người tín hữu với chính quyền địa phương.
Vậy tôi xin kính gởi bản tường trình này lên Quý Cơ quan tỉnh và mong Quý vị sớm giải quyết ổn thỏa, để chúng tôi có được một nơi thờ phượng nghiêm trang và phần đất Nhà thờ không bị lấn chiếm, cũng như xin Quí vị xem xét lại thái độ và hành vi thiếu lịch sự, mất tư cách và thái độ xem thường người dân, cũng như lời ăn tiếng nói gây chia rẽ, mất tình đoàn kết, của một số cán bộ xã Phú Diên và thôn Kế Sung đối với người tín hữu chúng tôi.
Những sự việc trên làm cho người tín hữu Công giáo nói chung và người tín hữu Công giáo Kế Sung nói riêng thật sự rất bức xúc. Kính mong Quý cấp trên xem xét giải quyết, để chúng tôi có được cuộc sống bình yên, trong một đất nước thái bình.
Trong lúc chờ đợi sự giải quyết của Quý vị, chúng tôi chân thành cảm ơn.
Kế Sung ngày 07-01-2004
| Đại diện toàn thể tín hữu Kế Sung Ông Chủ tịch H.Đ.G.X. (ký tên) Lê Đức Quế | Linh mục Quản xứ Cự Lại - Kế Sung (đóng dấu) (ký tên) Đặng Văn Nam |
| Ông Phó Chủ tịch H.Đ.G.X. (ký tên) Nguyễn Ngọc Ánh |
Bản sao kính gửi
để kính tường.- UBND huyện Phú Vang
- Công an huyện Phú Vang
- MTTQVN huyện Phú Vang
- UBND xã Phú Diên
- Tòa Tổng Giám mục Huế
- Các Linh mục Hạt trưởng Giáo phận Huế
- Các Linh mục Giáo hạt Hương Phú
2. TÂM TÌNH ĐẦU XUÂN GIÁP THÂN 2004
Niềm hy vọng nào cho đất nước dân tộc ?
Kính thưa toàn thể đồng bào Việt Nam trong và ngoài nước,
• Theo định luật tuần hoàn của trời đất, mùa Xuân lại về trên hành tinh, cái Tết lại đến với dân Việt. Cây cối đâm chồi nẩy lộc, báo hiệu một sức sống mới, làm biểu tượng cho niềm hy vọng của mọi người. Nhưng đối với quê hương Việt Nam chúng ta hiện thời, có những niềm hy vọng nào chăng ?
- Trước hết, có hy vọng nào cho tiềm năng và sinh lực của dân tộc, khi trong quá khứ gần đây, hàng triệu con Hồng cháu Lạc đã phải chết đau thương vì cái mưu đồ đen tối, muốn bành trướng một chủ nghĩa phi nhân bản, phản dân tộc trên quê hương, muốn áp đặt một chế độ gian dối và bạo tàn chưa từng thấy trong lịch sử nước nhà; khi trong hiện tại từng ngày, hàng triệu thai nhi bị giết thường niên do những phương thức hạn chế dân số cưỡng bức và mù quáng, hàng trăm án tử thi hành mỗi năm do một nền công lý tàn nhẫn và báo thù, coi rẻ nhân mạng? Có hy vọng nào cho tiềm năng sinh lực của dân tộc khi biết bao bộ óc tài năng đã phải bỏ nước ra đi, ngán ngẩm chẳng muốn về giúp quê nhà, hay thấm thía chuyện đầu tư ở quê hương; khi nạn thất nghiệp tràn lan, khiến vô số thiện chí sức lực bị bỏ xó, tệ mua bán chỗ làm hoành hành, khiến bao con người phải điêu đứng đứt ruột; khi giới trẻ trầm mình trong thác loạn ma túy, kết thúc cuộc đời trong tuyệt vọng tự tử; khi dân nghèo chết tức tưởi vì không đủ tiền lo lót bệnh viện, phải mua thuốc bán giá trên trời; khi môi trường tiếp tục bị tàn phá, thực phẩm thường xuyên gây ngộ độc? Có hy vọng nào cho tiềm năng sinh lực dân tộc khi hàng chục ngàn cây số vuông lãnh thổ giàu tài nguyên bị dâng cho ngoại bang, khi nền kinh tế tài chánh chủ yếu dựa trên vay mượn ngoại tệ và mong chờ kiều hối, khi hàng trăm triệu đô la vay nước ngoài bị thâm lạm không thể tưởng trong nhiều công trình ăn gian làm dối, bị phung phí quá mức trong những cuộc lễ hội chỉ để tuyên truyền cho chế độ ?
- Thứ hai, có hy vọng nào cho tri thức văn hóa của dân tộc khi đường lối giáo dục vạch ra một cách tùy tiện, giáo viên được đào tạo hết sức qua loa, giáo khoa biên soạn vô cùng cẩu thả, cơ sở giáo dục không đủ tiêu chuẩn hay bệ rạc xuống cấp; khi hầu hết các học đường chỉ chạy theo thành tích, dạy thêm học thêm trở thành quốc nạn bất trị; khi thầy bị áp lực làm mọi cách đạt chỉ tiêu, đạt danh hiệu, đạt kế hoạch, còn trò chỉ biết học vẹt, học từ chương, học đối phó; khi điểm giả, bằng giả tràn lan ngang nhiên, thi kèm thi thế duy trì dai dẳng, kẻ ít kiến thức kém tài năng nắm vận mệnh đất nước lâu dài? Có hy vọng nào cho tri thức văn hóa của dân tộc, khi sau hơn nửa thế kỷ xây dựng nền văn minh xã hội chủ nghĩa ưu việt, chẳng một đại học quốc gia nào đạt tầm cỡ quốc tế, thậm chí tầm cỡ khu vực, hiếm tác phẩm văn chương nghệ thuật nước nhà được thế giới hoan nghênh tán thưởng, thậm chí phổ biến rộng rãi ở các nước lân bang; khi người dân bị giới hạn nẻo lên mạng toàn cầu, nhiều giá trị văn minh nhân loại bị cản đường vào đất nước; khi thành viên đảng đoàn vẫn được ưu thế hơn tín đồ tôn giáo hay dân thường trong học tập nghiên cứu, lập trường chính trị vẫn được coi trọng hơn khả năng chuyên môn trong chức vụ ngành nghề; khi mọi ngành học thuật đều bị chính trị hóa còn thì thiếu vắng một nền triết học chính danh, một nền khoa học thực dụng.
- Thứ ba, có hy vọng nào cho đạo đức và tinh thần dân tộc khi các tôn giáo bị đàn áp thẳng tay, luân lý cương thường bị đảo lộn mai một, căm thù tôn giáo và tận trung với đảng là tiêu chuẩn cao hơn đạo đức và tài năng để được làm lãnh đạo; khi tiên học lễ hậu học văn trở thành trò cười, lương y như từ mẫu bị mỉa mai bêu riếu; khi nơi học làm người trở nên chợ bán chữ giá đắt, chốn chăm sóc bệnh nhân biến dạng thành chỗ khai thác tận tình sự đau khổ; khi tham nhũng, hối lộ trở thành điều đương nhiên, gian dối lừa đảo hóa nên chuyện bình thường; khi những giá trị tinh thần bị lạm dụng để làm đẹp mặt chế độ, những công trình văn hóa tôn giáo bị khai thác hầu thu lợi nhuận cho kẻ cầm quyền? Có hy vọng nào cho đạo đức và tinh thần dân tộc khi pháp luật chỉ là trò hề công lý, công tố kéo luật sư vào cùng một phe, xử án thường theo từ trên chỉ đạo, tội danh đa phần bịa đặt giả dối, bản án đã viết sẵn trước khi mở tòa, đặc biệt trong những phiên tòa chính trị; khi các nhân viên công lực chỉ biết làm theo mệnh lệnh chứ không làm theo luật pháp, lại càng không làm theo lương tâm, đối xử với dân thường và thậm chí với tu sĩ một cách côn đồ vô học; khi chẳng có trần cho mức tham nhũng, thiếu hãm thắng cho nạn cửa quyền; khi những nhà đấu tranh cho nhân quyền bị đàn áp thẳng tay, các cán bộ đảng viên phạm pháp ra tòa được nương nhẹ; khi thay vì làm tôi tớ cho sự thật, báo chí lại cung cúc phục vụ chính quyền, đáng lẽ làm công bộc của nhân dân, người nhà nước lại tận tình tuân theo lệnh đảng, lẽ ra phải trình bày chân thiện khách quan, lắm văn nghệ sĩ lại sáng tác theo đơn đặt hàng.
- Thứ tư, có hy vọng nào cho ý chí khí phách của dân tộc khi nền giáo dục chỉ nhắm đào tạo những con người thiếu đầu óc sáng tạo, thiếu suy nghĩ độc lập, thiếu lý tưởng xả thân, không dám thẳng thắn phản biện, không dám tìm sự thật đến cùng, không dám mạnh mẽ đòi công lý; khi nền pháp luật chỉ biết trừng phạt, dọa nạt, báo thù, chỉ cốt làm người dân mệt mỏi, chán ngán, hãi sợ; khi đường lối cai trị nhắm tạo ra những thần dân yên phận thủ thường, những lãnh đạo tinh thần nhát đảm câm nín quên nhiệm vụ ngôn sứ, những trí thức ươn hèn thụ động bỏ lời nhắn nhủ “Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách”. Có hy vọng nào cho ý chí khí phách của dân tộc khi những tiếng nói phê bình thẳng thắn bị dập tắt, những giọng điệu tố cáo mạnh mẽ bị trừng trị, những hoạt động đối lập chính kiến bị bóp chết từ trong trứng nước; khi “bản lãnh chính trị” chỉ có nghĩa tối mặt vâng lời đảng, “tốt đời đẹp đạo” chỉ có nghĩa cung cúc phục vụ thế quyền; khi những nhà lãnh đạo quốc gia không biết vận dụng nội lực dân tộc để đương đầu với ngoại bang, đến độ ô nhục dâng một phần đất tổ cho nước lớn bá quyền, bán vành đai an ninh tổ quốc cho kẻ thù truyền kiếp, nhường nhiều quyền lợi kinh tế cho những thế lực tài phiệt ngoại quốc.
• Ai là thủ phạm đã làm cho mọi niềm hy vọng ấy của dân tộc tan biến ?
Đó chính là đảng cộng sản độc tài toàn trị. Một đảng luôn nhắm mục tiêu mưu ích cho chính mình chứ không cho đồng bào đất nước, bằng cách dùng mọi biện pháp kể cả phi nhân phi nghĩa để tăng thêm quyền lực và thu thêm quyền lợi. Một đảng bất tài bất lương, chỉ có độc thành tích là ngày càng làm nghèo đất nước: nghèo của cải, nghèo nhân phẩm, nghèo đạo đức, nghèo công lý, nghèo uy tín, nghèo văn minh, chỉ cai trị bằng đàn áp bóc lột và lừa gạt dối trá. Một đảng với mấy triệu đảng viên chia nhau các chức vụ quan trọng trong guồng máy quốc gia, hưởng thụ hơn 3/4 tài nguyên đất nước, nuôi tham vọng muôn năm trường trị nhờ điều 4 Hiến pháp, biến quốc hội, nhà nước, tòa án, công an, quân đội, báo đài thành công cụ cho riêng mình. Một đảng tạo điều kiện cho nhân sự các cơ cấu ngoại vi như thành viên chính quyền, mặt trận, công an trở thành những ông trời con tại địa phương, chuyên lợi dụng nghị định 36-CP, sổ hộ khẩu, bằng chủ quyền nhà đất, visa xuất cảnh và đủ thứ giấy phép để áp bức lương tâm, cản trở hành động, kiểm soát tự do và bòn rút tiền bạc của nhân dân lẫn tôn giáo.
• Nhưng phải chăng niềm hy vọng đã hoàn toàn tắt ngấm trên quê hương đất nước ?
Thưa không! Nó vẫn còn sống mãi và sống mạnh. Trước hết là nhờ tinh thần dân tộc, hồn thiêng đất nước, chí khí tiên tổ đã từng anh dũng đương cự những thế lực ngoại xâm, giải trừ các chế độ cai trị bạo tàn, trừng trị lũ sâu dân mọt nước. Tiếp đến là nhờ những ngọn đuốc sáng ngời, những tấm gương tuẫn tiết gần đây cho đạo pháp và dân tộc. Nhờ những tiếng nói can trường hiện nay của các lãnh đạo tinh thần đầy sáng suốt và ý thức, của các nhà đấu tranh dân chủ đầy ái quốc và thiện chí, đặc biệt là những nhà đấu tranh dân chủ trẻ tuổi, nhờ tinh thần chấp nhận gian khổ, gánh lấy tù ngục của nhiều vị bất đồng chính kiến và phản kháng hiếu hòa. Nhờ sự trỗi dậy của vô số dân lành và tín đồ không còn chịu nổi cảnh áp bức đày đọa, đang ra đứng trước các cơ quan quyền lực để đòi công lý, tiến thẳng tới trụ sở chính quyền để yêu cầu lẽ phải, lên mạng toàn cầu để thông báo tình trạng nhân quyền cho toàn thế giới. Đó là nói về trong nước.
Nhìn ra hải ngoại, niềm hy vọng của dân tộc tiếp tục được duy trì nhờ kiều bào ngày một thấy rõ tình hình đất nước, ý thức được nhu cầu của quê nhà là nhu cầu dân chủ tự do, ngày càng tranh đấu mạnh mẽ qua việc hỗ trợ các tổ chức quốc nội và vận động các tổ chức quốc ngoại, phá vỡ bức tường lửa thông tin của cộng sản và tận dụng sức mạnh của mạng lưới toàn cầu để tố cáo tà quyền, nêu bật chính nghĩa trước người dân ở quê nhà và nhân dân khắp thế giới. Niềm hy vọng đó cũng được duy trì nhờ sự ủng hộ ngày càng rộng rãi của biết bao chính phủ, cơ quan, tổ chức quốc tế nhân quyền cũng như vô số tâm hồn thiện chí xót thương thảm trạng của dân Việt.
Trong lịch sử nước nhà đã có mùa Xuân Kỷ Dậu, Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ đại phá quân Thanh. Nay nhờ sự hợp lực đấu tranh cho dân chủ nhân quyền và tự do tôn giáo của mọi người giòng giống Việt hay yêu dân Việt khắp hoàn vũ, quê hương thân yêu của chúng ta cũng sẽ có một mùa xuân sạch bóng những gì đi ngược với chân lý, công bình, tình thương và tự do.
Nguyện xin Thiên Chúa là Chủ tể càn khôn, Nguồn xuân bất tận xuống cho Quý vị muôn vàn ơn phước trong năm Giáp Thân này.
Viết tại Huế những ngày giáp tết.
Linh mục Phêrô Nguyễn Hữu Giải và Phêrô Phan Văn Lợi