Vụ Án Công Giáo |
Đấu tranh cho tự do tôn giáo tại Giáo phận Huế
Bản tin ngày 28-02-2004
Cộng sản tiếp tục đàn áp Giáo họ Kế Sung
I. Giáo xứ Kế Sung làm thất bại âm mưu của Cộng sản
Như chúng tôi đã loan trong Bản tin ngày 16-01-2004 và 05-02-2004, vụ việc sân nhà thờ Kế Sung bị cướp để làm đường chưa giải quyết xong, thì xảy ra tiếp vụ đất giáo xứ bị chiếm để xây nhà. Đang khi xảy ra cả hai vụ, chính quyền địa phương (UBND, MTTQ, CA) kể từ cấp tỉnh trở xuống, dù được báo động kêu cứu nhiều lần (thậm chí báo trước nhiều ngày), vẫn hoàn toàn lờ đi, để mặc cho cán bộ đảng viên đoàn thể CS xã Phú Diên trấn áp bạo tàn nhóm giáo dân nhỏ bé cùng với các chủ chăn của họ (vụ con đường), hoặc để mặc cho đám lấn chiếm xô xát hành hung những nữ tín đồ can đảm bảo vệ tài sản Giáo hội (vụ xây nhà).
Tuy trong hai lần, đều có nhân dân ở cả đôi bên, nhưng ai cũng nhận thấy rằng thủ phạm chính tạo ra tranh chấp chính là chính quyền cộng sản. Với sở trường và chính sách “chia để trị” hòng thủ lợi, CS tìm cách gây mâu thuẫn giữa nhân dân Kế Sung lương giáo từ lâu đời vẫn sống với nhau đậm đà tình làng nghĩa xóm, bằng cách ép buộc một số người tham gia vào hành vi cướp đất làm đường và bằng cách xúi xiểm hỗ trợ vài cá nhân nhẹ dạ đoạt lấy tài sản Giáo hội.
Nhưng nay thì kế sách phá hoại đoàn kết thâm độc của CS đã thất bại. Ngay sau vụ làm đường, nhiều dân làng bị ép buộc đã đến xin lỗi giáo xứ và giáo dân. Chiều 30 Tết, một chủ xe công nông (chở cát sạn hôm 5 và 6-01-04), khi đang trên đường tới nơi tụ họp cùng bè bạn để “ăn mừng chiến thắng”, thì đã bất ngờ tông xe máy vào cây bạch đàn góc sân nhà thờ, chết ngay tại chỗ (Xin đính chính: Bản tin 05-02 nói là 29 tết và tông xe công nông). Giáo xứ đã lập tức tới chia buồn với tang gia. Ngày 14-02, anh Nguyễn Văn Mạnh, người từng xô xát với giáo dân hôm 05-01 (xem ảnh đã gởi) và từng cầm xên định đánh vào đầu cha Giải hôm 06-01, đã bất ngờ bị tai nạn xe máy chấn thương sọ não. Vì không đủ tiền chăm sóc, mẹ của anh đã phải đi vay tiền. Và một giáo dân Kế Sung đã lập tức tháo chỉ vàng đang đeo trên tay trao cho bà với lời an ủi: “Có khâu vàng này dành dụm từ bao lâu, nay cháu cho bác mượn -chứ không cho vay- để bác lo chữa chạy anh ấy”. Con người đầy tình nghĩa hiệp này chính là chị Nguyễn Thị Thu Hà, nữ giáo dân can trường nhất và “lãnh đủ” nhất trong hai vụ việc (xin xem ảnh dưới). Tội nghiệp thay, anh Mạnh đã lìa đời hôm sau, 15-02. Giáo xứ cũng đã vội vã đến chia buồn.
Về vụ việc lấn đất xây nhà ngày 02-02-04, cha quản xứ Đặng Văn Nam và giáo dân, tuy cương quyết bảo vệ công lý, từ đầu đến cuối vẫn luôn hành xử trong tinh thần bác ái hiếu hòa: tìm cách thương lượng thuyết phục nhiều phen trước khi xẩy ra vụ việc (xin xem lại Bản tin 05-02 và đơn Khiếu nại dưới đây). Đến khi ông Quỳnh cố chấp trong dự định, cha con mới ra tay cản trở nhưng cũng trong thái độ bất bạo động: ngồi lì tại hiện trường và chấp nhận cho đối phương hành hung (xin xem ảnh dưới). Cuối ngày xô xát, vào khoảng 18g, cha Nam và Chủ tịch HĐGX lại đến nhà vợ chồng ông Quỳnh để mong thu xếp cho ổn thỏa (lần thứ ba cùng ngày), hầu tránh những chuyện không hay trong tương lai. Duy mình bà vợ có mặt, hai vị chỉ nói qua về vụ việc đáng tiếc xảy ra ban sáng. Tiếp đó, hai vị đến gặp ông Thiền (cha vợ) và anh Dũng (em rể ông Quỳnh, kẻ giúp kinh phí xây nhà), nhờ hai người này thuyết phục ông suy nghĩ lại quyết định làm nhà trong thời gian đất còn tranh chấp.
Chính thái độ cao thượng của vị quản xứ trẻ trung nhân hiền và những giáo dân nghèo nàn, ít học, quê mùa đã làm cho tình làng nghĩa xóm suýt bị CS phá vỡ bừng sống dậy. Dân làng nay nhìn các tín hữu với đôi mắt thiện cảm và nể phục. Phần chủ chăn và đoàn chiên Kế Sung, tuy chưa vui vì hai vụ việc chưa được giải quyết, cũng cảm thấy được an ủi và hãnh diện vì mình đã sống xứng đáng là con cái Thiên Chúa: vừa thực thi bác ái vừa bảo vệ công bằng.
Dưới đây, chúng tôi xin gởi đến Quý vị hai Đơn khiếu nại của Giáo xứ về hai vụ việc (kèm sơ đồ) và những hình ảnh về vụ việc thứ hai, cũng do cha Nam, vị quản xứ sống chết với đàn chiên, chụp tại hiện trường ngày 02-02-2004. Vì lý do kỹ thuật, hai Đơn khiếu nại được đánh lại trên vi tính, chỉ có các chữ ký là được sao quét (scan) để làm bằng chứng thôi. Xin thông cảm.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
------------------------------------------------------------
Kính gửi :
- Ủy ban Nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Ủy ban Mặt trận TQVN tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Hội đồng Nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Ban Tôn giáo tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Sở Công an tỉnh Thừa Thiên Huế.
Chúng tôi là : Linh mục Đặng Văn Nam, Quản xứ Địa sở Cự Lại ( Kế Sung cùng đại diện các chức sắc trong Họ giáo Kế Sung, thuộc xã Phú Diên, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế, kính trình đến quí ban ngành sự việc như sau :
Về thửa đất mà UBND xã Phú Diên muốn làm con đường đi băng qua :
Họ giáo Kế Sung chúng tôi được thành lập khoảng năm 1915. Đến năm 1925, khởi công xây dựng Nhà thờ cách kiên cố trên mảnh đất ngày nay (còn để lại di tích là tháp chuông), tại thửa đất số B33 (theo bản đồ địa chính cũ) với diện tích là 480m2.
Vào năm 1945, ông Trương Văn Cảm đã dâng cúng cho Họ giáo phần đất của ông mà ông Trương Văn Nhường là cháu ruột đã thay mặt ông Cảm để dâng cúng, với diện tích là 948m2 (hiện nay, ông Nhường đang còn sống tại thôn Ngọc Hồ, xã Hương Hồ, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế).
Khoảng năm 1962, gia đình ông Nguyễn Văn Chơn ở tại thửa đất số B34 (sát bên phải nhà thờ), đã chuyển nhượng thửa đất này (số B34) cho Họ giáo. Nguồn gốc thửa đất số B34 là của ông Trương Văn Mão, ông ngoại của bà Lê Thị Vi (hiện nay, bà Vi đang sống tại xã Phú Hải, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế; bà biết rất rõ về thửa đất này, vì chính bà đã từng sống từ nhỏ cho đến lớn trên đất này). Ông Mão đã cho con rể là ông Lê Viết Vỡ thửa đất nói trên, ông Vỡ bán cho ông Chơn, ông Chơn đổi cho Họ giáo gần 1/2 đất của ông Cảm đã dâng cúng cho Họ giáo. Sau đó ông Chơn đã bán (phần đất đã đổi của Họ giáo) cho ông Lê Viết Chữ. Hiện nay ông Chơn còn sống tại Suối Cả, xã Xuân Đường, huyện Long Khánh, tỉnh Đồng Nai (kính xin xem sơ đồ, có đính kèm).
Đến năm 1964, do chiến tranh làm hư hại, Nhà thờ Kế Sung được làm lại, trên thửa đất số B33 và số B34 (mà gia đình ông Chơn đã chuyển nhượng); còn phần đất phía trước Nhà thờ (là đất mà ông Cảm dâng cúng) làm khuôn viên đất sinh hoạt của Nhà thờ. Như vậy, kể từ năm 1962 cho đến nay, phần đất của Nhà thờ Kế Sung gồm : thửa đất số B33, số B34; nếu tính cả phần đất Họ giáo mua của bà Nguyễn Thị Ba là số B38 và phần đất nằm cạnh Nhà thờ: hướng đông giáp đất ông Trần Ngọc Tuấn và ông Trần Ngọc Lò, hướng đông bắc giáp đất bà Lê Thị Khả, hướng bắc giáp đất ông Lê Viết Dũng, hướng tây bắc giáp đất ông Lê Viết Nhàn, hướng tây nam giáp đất ông Lê Đức Minh, hướng nam là sân nhà thờ, giáp đường quốc lộ 49B, hướng đông nam giáp đất ông Lê Viết Chữ.
Như vậy, đất của Nhà thờ Kế Sung đã có từ lâu đời. Con đường ngay trước Nhà thờ mà UBND xã Phú Diên muốn làm con đường liên thôn, là thuộc đất của Nhà thờ Kế Sung mà từ trước không có con đường đó, chỉ có một con đường nhỏ (phía đông Nhà thờ) đi ngang Nhà thờ, nó đi qua trước nhà ông Trần Ngọc Khấn và ông Trần Ngọc Tuấn, sau lưng nhà ông Trần Ngọc Lò. Lý do có con đường này là để tín hữu đến Nhà thờ.
Cho đến năm 1978, Hợp tác xã Nông nghiệp I, xã Phú Diên đã mở một con đường nhỏ trước cửa Nhà thờ. Dần dần người dân đi qua lại, làm thành con đường mòn ngày một lớn ra.
Ngày 26-9-2003, lãnh đạo UBND xã Phú Diên ra lệnh thôn Kế Sung triệu tập các vị bô lão và các trưởng tộc của các họ phái trong thôn Kế Sung, để bàn về việc làm con đường liên thôn băng ngang qua Nhà thờ Kế Sung. Trong buổi họp đó, có ông Lê Đức Viên đã phát biểu giữa hội nghị rằng trước đây không có con đường cạnh tam cấp Nhà thờ, chỉ có con đường cái trước Nhà thờ là đường quốc lộ 49B hiện nay. Toàn thể cử tọa không có ai phản đối lời xác nhận đó.
Thật vậy, nếu hỏi những người dân Kế Sung cao niên coi trọng nghĩa khí và sống trung thực thì quí vị đó sẽ trả lời cho chúng ta câu đáp đúng với sự kiện lịch sử của Họ giáo là thành phần của thôn Kế Sung.
Nhưng mà sau đó, ngày 05-01-2004, UBND xã vẫn cứ tiến hành làm con đường, cho dù chúng tôi buộc lòng phải ngăn cản để biểu chứng sự không đồng ý về quyết định của UBND xã đã dựa vào kết quả của Đoàn 299, mà chúng tôi không đồng ý kết quả của Đoàn 299 được. Vì trên thực tế, Đoàn 299 là đoàn nào chúng tôi chưa hề gặp gỡ, tiếp xúc. Vả lại, nếu có Đoàn 299 về đo đạc hiện trạng đất đai của Họ giáo, thì ít nhất phải có đại diện Họ giáo xác nhận và đồng ý (như trong biên bản ngày 03-11-2003 có trình bày). Như vậy, chúng tôi không đồng tình với việc làm trên.
Đàng khác, chúng tôi thiết nghĩ làm con đường này lợi ít mà hại nhiều, bởi lẽ con đường băng qua trước tam cấp Nhà thờ rất dễ gây ra tai nạn giao thông, vì đường thì hẹp, lại cong queo. Chúng tôi vẫn chưa nói đến vấn đề tâm linh tôn giáo của chúng tôi. Trong khi đó, con đường Quốc lộ 49B chỉ cách con đường này là 15m, theo lời của một cán bộ huyện Phú Vang nói rằng sẽ mở rộng thêm 10m của con đường Quốc lộ 49B vào hướng sân Nhà thờ.
Chúng tôi không đồng ý về việc UBND xã Phú Diên đã tự động tịch thu đất của Họ giáo chúng tôi, để làm con đường bê-tông, vì chúng tôi nhận thấy việc làm của UBND xã thực hiện không đúng theo pháp luật và không có căn cứ dựa trên pháp luật :
Trên đây là nhận định của chúng tôi về việc làm đường sai trái của UBND xã Phú Diên. Kính mong quí ban ngành xem xét giải quyết trao trả lại phần đất nói trên cho Họ giáo chúng tôi, để chúng tôi có một nơi thờ tự trang nghiêm, yên lành như mong ước của những người có công cống hiến và vun đắp, cũng như tất cả tín hữu Họ giáo Kế Sung chúng tôi.
Chúng tôi là những người dân trong một đất nước độc lập, rất mong quí cơ quan xem xét và giải quyết, để cuộc sống của chúng tôi ngày càng vươn cao, nhờ nỗ lực sống tốt đẹp, vui tươi và đoàn kết xây dựng.
|
Chủ tịch : Lê Đức Quế
|
Phú Diên, ngày 17-02-2004 Đặng Văn Nam |
![]() |
Nơi nhận
- Như trên
- UBND huyện
- Tòa Tổng Giám Mục Huế
- Các Linh mục Hạt trưởng TGP Huế
- Các Linh mục Giáo hạt Hương Phú
- Lưu tại Văn phòng GX.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
------------------------------------------------------------
Kính gửi :
- Ủy ban Nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Ủy ban Mặt trận TQVN tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Hội đồng Nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Ban Tôn giáo tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Sở Công an tỉnh Thừa Thiên Huế.
Chúng tôi là : Linh mục Đặng Văn Nam, Quản xứ Địa sở Cự Lại ( Kế Sung cùng đại diện các chức sắc trong Họ giáo Kế Sung, thuộc xã Phú Diên, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế, kính trình đến quí ban ngành sự việc như sau :
Vào năm 1962, Họ giáo Kế Sung chúng tôi có mua một thửa đất của bà Nguyễn Thị Ba, là thửa đất sát cạnh Nhà thờ Kế Sung, về hướng Đông Nam, có số thứ tự B38, với diện tích 0 mẫu, 0 sào, 13 thước, 6 tấc (tính theo mẫu ta) bằng 452m2, để làm trường học giáo lý và nhà Cha sở. Nhưng vì chưa có kinh phí, Họ giáo chúng tôi trồng tre, dương liễu, bạch đàn chung quanh thửa đất này (có giấy xác nhận đính kèm của chồng bà Ba là ông Trương Văn Duệ).
Thửa đất này có hai phần: phần trên và phần dưới. Đất phần dưới (đất ông Quỳnh hiện đang ở), hàng năm linh mục Nguyễn Văn Huy đã trồng khoai, qua những vụ đông. Đất phần trên (đất ông Tuấn đang ở), trước đây Họ giáo cho ông Tuấn trồng khoai và chất rơm. Hàng năm, đến ngày lễ bổn mạng của Họ giáo, ông Tuấn đã cúng tiền để hương khói cho Nhà thờ Họ giáo.
Nhưng đến khoảng năm 1988, UBND xã Phú Diên tự động cấp cho ông Trần Ngọc Quỳnh phần đất phía dưới, mà không có ý kiến Họ giáo chúng tôi.
Sau khi chúng tôi đã nhiều lần viết đơn khiếu nại (đã bốn lần) đến UBND xã Phú Diên và UBND huyện Phú Vang :
Họ giáo chúng tôi lại tiếp tục khiếu nại đến UBND xã và UBND huyện để lấy lại thửa đất này. Lần này, UBND huyện (qua lời ông Dương Văn Dũng) hứa sẽ về tại địa phương để giải quyết. Thế nhưng, mãi cho đến ngày 28 tháng 01 năm 2004, chúng tôi thấy ông Quỳnh đang tập trung vật liệu để chuẩn bị xây nhà kiên cố trên thửa đất mà chúng tôi đang khiếu nại.
Thấy sự việc như thế, ngày 29 tháng 01 năm 2004, đại diện Họ giáo đến tại nhà ông Quỳnh, để đề nghị ông chưa được làm nhà, vì đất ông đang ở là đất của Họ giáo, chúng tôi đang khiếu nại. Ông Quỳnh trả lời rằng tôi đã có quyết định và thẻ đỏ của UBND huyện, tôi sẽ xây nhà vào ngày 02 tháng 02 năm nay.
Đứng trước thực trạng như thế, vào sáng ngày 30 tháng 01 năm 2004, hai đại diện của Họ giáo là ông Lê Đức Quế và ông Nguyễn Ngọc Ánh đến UBND xã để trao đổi với quí lãnh đạo UBND xã về việc ông Quỳnh sắp xây nhà trên thửa đất của Họ giáo đang còn tranh tụng và xin quí lãnh đạo xã suy xét lại việc cho phép ông Quỳnh xây nhà.
Ngày hôm sau, ngày 31 tháng 01 năm 2004, hai vị đại diện của Họ giáo đến tại UBND xã và đã nghe ông Lê Đức Thông nói rằng UBND huyện đã ra quyết định và cấp thẻ đỏ cho ông Quỳnh. Ông Thông đọc và gửi tờ quyết định số 1063/QĐ-UB ngày 26 tháng 10 năm 2001 của UBND huyện, do ông Phó Chủ tịch Phan Văn Quang đã ký cho vị đại diện Họ giáo. Đại diện Họ giáo hỏi ông Thông rằng tại sao huyện ra quyết định và cấp thẻ đỏ mà chúng tôi không biết? Ông trả lời rằng quyền cấp trên, mấy ông lên ban văn thư của huyện mà hỏi, tôi không biết. Đại diện Họ giáo nói rằng việc UBND huyện ra quyết định và cấp thẻ đỏ cho ông Quỳnh, chúng tôi không nhất trí.
Nhận thấy thái độ của ông Quỳnh và các cán bộ xã nhất quyết không thay đổi, chúng tôi liền gửi “Đơn xin can thiệp” cho quí ban ngành của cấp tỉnh và huyện (gửi ngày 01 tháng 02 năm 2004) xin can thiệp, vì chúng tôi sẽ cản trở không cho ông Quỳnh làm nhà trên đất của Họ giáo chúng tôi.
Vào sáng ngày 02 tháng 02 năm 2004, lúc 6 giờ, ông Nguyễn Ngọc Ánh có gặp anh Trần Bá Tán (trưởng công an xã). Ông nhắc lại lời yêu cầu của Họ giáo xin UBND xã can thiệp về việc ông Quỳnh làm nhà. Nhưng anh Tán không giải quyết được gì.
Đến 7g30, Linh mục Quản xứ và một số bà mẹ tín hữu Công giáo gặp ông Quỳnh để trao đổi lần nữa. Chúng tôi nói với ông Quỳnh rằng xin ông xem lại việc ông xây nhà trong thời gian này, ông chờ đợi thêm một thời gian nữa thôi, để chúng tôi được gặp ông Phan Văn Quang, chúng tôi xin trao đổi cho thỏa đáng. Nếu không, khi ông làm nhà mà chúng tôi cản trở thì thật phiền lòng cho cả hai bên, và khi có sự xô xát chúng tôi có quyền tự vệ, đồng thời chúng tôi không chịu trách nhiệm về những vật liệu khi ông xây nhà trên phần đất chúng tôi còn đang tranh tụng. Nhưng sau đó ông Quỳnh vẫn tiến hành đào móng xây nhà và chúng tôi buộc lòng phải cản trở.
Đến ngày 10 tháng 02 năm 2004, UBND xã và có cán bộ huyện về trao đổi với Họ giáo chúng tôi tại văn phòng UBND xã. Kết quả của buổi họp là :
+ Đình chỉ việc xây nhà của ông Quỳnh.
+ Nếu Họ giáo không thỏa mãn thì tiếp tục khiếu kiện lên cấp trên.
Chiều ngày 13 tháng 02 năm 2004, Họ giáo đã xin hồ sơ liên quan đến việc cấp đất cho hai gia đình ông Tuấn và ông Quỳnh trên thửa đất của Họ giáo. Đại diện của Họ giáo đã nhận được bảy tài liệu liên quan đến đất của Họ giáo mà UBND xã cấp cho ông Quỳnh.
Trước những quyết định của UBND xã Phú Diên và UBND huyện Phú Vang, chúng tôi không đồng ý về việc giao cấp đất, chiếm dụng đất của Họ giáo chúng tôi, để cho hai gia đình ông Tuấn và ông Quỳnh đến cư ngụ. Đó là việc làm không hợp lý, sai sự thật và trái với pháp luật.
Trước hết, Nghị định 26/1999/NĐ-CP của Chính phủ điều 11, khoản 1 : “Nhà nước bảo hộ nơi thờ tự của tổ chức tôn giáo”, mà Họ giáo là một tổ chức pháp nhân. Đàng khác, chính sách Nhà nước luôn tôn trọng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất (như trong Bộ Luật đất đai năm 1993, điều 3, khoản 1). Do đó, trong Bộ Luật đất đai và trong Bộ Luật dân sự, rất nhiều điều khoản nói đến việc đất đai đang còn tranh chấp thì không được chuyển quyền sử dụng đất đó cho người khác, chẳng hạn điều 30, khoản 3 của Bộ Luật đất đai năm 1993, hay điều 693, khoản 4 của Bộ Luật dân sự.
Như thế, khi nhìn qua hồ sơ mà UBND xã đã gửi cho Họ giáo chúng tôi, chúng tôi xét thấy hồ sơ đó không có căn cứ pháp luật như sau :
1. Về tờ Biên bản đo đạc kiểm tra đất ở :
Chúng tôi không đồng ý với lý do sau đây :
Sơ đồ không theo đúng thực tế.
Vả lại, lúc đo đất có sự hiện diện của hai vị đại diện Họ giáo mà chỉ một vị ký nhận. Như vậy, trong Họ giáo chưa thống nhất. Nếu nói rằng chỉ cần một vị đại diện là được, thì xin thưa rằng nguyên tắc chung là phải ba vị đồng ký tên, hay tối thiểu là hai vị, bởi vì đây là đại diện của một tổ chức, một tập thể lớn, chứ không phải của một gia đình nhỏ nào.
Đàng khác, đối với Hội thánh Công giáo, tại mỗi Địa sở hay Giáo xứ, vị Linh mục Quản xứ chịu trách nhiệm và có quyền quyết định cao nhất trong Địa sở hay trong Giáo xứ.
Một lý do khác : khi đo, cán bộ xã chỉ lấy mốc từ tường của Nhà thờ đo vào trong Nhà thờ, còn phần tam cấp trở ra sân Nhà thờ thì không đo. Khi hai vị đại diện Họ giáo tranh cãi thì cán bộ xã nói là dựa trên kết quả của Đoàn 299 đã đo trước đây. Đối với chúng tôi, chúng tôi không đồng ý về kết quả đo đạc của Đoàn 299, như chúng tôi đã trình bày trong cuộc họp với UBND xã ngày 03-11-2003, với lý do là khi Đoàn 299 đo đạc, không có sự chứng kiến và đồng ý của Họ giáo (kính xem biên bản có đính kèm).
2. Biên bản giải quyết về việc đất nhà ở của ông Trần Ngọc Quỳnh
Dựa vào biên bản này, ông Chủ tịch UBND xã là ông Nguyễn Văn Uýnh cho rằng Linh mục Nguyễn Văn Huy đã chấp nhận việc UBND xã giải quyết đất cho ông Quỳnh và ông Chủ tịch đã đọc lại trong buổi họp giữa quí lãnh đạo xã, huyện với các đại diện Họ giáo vào ngày 10-02-2004 tại văn phòng UBND xã Phú Diên. Ông Chủ tịch đọc nhấn mạnh: “....Anh Nguyễn Văn Huy phát biểu: Trong việc đất đai vừa qua, tôi không không phát biểu gì trong việc đất đai, còn ông Quỳnh khiếu nại sai. Việc đất đai này, tôi không có quyền hạn gì. Thống nhất, UBND xã giải quyết cho anh Trần Ngọc Quỳnh trọn quyền sử dụng. Biên bản lập ....” (kính xin xem biên bản, có đính kèm).
Như thế, chúng tôi thấy rõ ý của Linh mục Nguyễn Văn Huy đã xác định quyền hạn của mình về đất đai. Do đó, trong biên bản này Linh mục không giao đất như quí lãnh đạo xã Phú Diên đã hiểu là Linh mục đã giao. Vì thật đúng là thế: đất đai của Họ giáo là của toàn thể tín hữu Công giáo Kế Sung, là của chung Hội thánh, mà Linh mục Quản xứ là người chịu trách nhiệm và quyết định sau khi đã có ý kiến của Tòa Giám mục và của tín hữu Công giáo địa phương. Hơn nữa, khi các cán bộ tỉnh, huyện đến họp dân tại đình làng Kế Sung ngày 05-02-2004, để tìm hiểu về nguồn gốc của hai mảnh đất còn tranh chấp là mảnh đất ông Quỳnh ông Tuấn đang ở và mảnh đất trước sân Nhà thờ mà UBND xã làm đường đi băng qua, thì Linh mục Nguyễn Văn Huy đã làm chứng lại cách công khai giữa hội nghị.
3. Biên bản về việc giải quyết tranh chấp về đất đai giữa Họ giáo và ông T.N.Quỳnh
Trong biên bản này, chúng tôi kiến nghị vì 3 lý do sau đây :
- Biên bản không có ngày tháng năm.
- Không công nhận phần đất ông Quỳnh trên mảnh đất Nhà thờ mà UBND xã đã hiển nhiên công nhận trong biên bản.
- Không chấp nhận biên bản. Bởi vì các đại diện Họ giáo đã không thống nhất đồng tình.
4. Về bản quyết định của UBND xã Phú Diên
Chúng tôi không chấp nhận Quyết định số 36/QĐ-UB ngày 04-4-2001 của UBND xã Phú Diên vì hai lý do sau đây :
- Không đồng tình công nhận phần đất của ông Quỳnh trên đất của Họ giáo chúng tôi.
- Quyết định của UBND xã ban hành mà Họ giáo là người trực tiếp liên quan không có một bản văn nào. Làm như thế là sai phạm đến Luật đất đai của Nhà nước.
5. Về bản quyết định của UBND huyện Phú Vang
Chúng tôi không chấp nhận Quyết định số 1063/QĐ-UB ngày 26-10-2001 của UBND huyện Phú Vang, vì các lý do sau đây :
- Quyết định dựa vào hồ sơ của Đoàn 299/TTg xã Phú Diên lập, mà kết quả đo đạc tại đất của Họ giáo thì chúng tôi đã không đồng ý (như đã nêu ở trên).
- Chúng tôi phản bác căn cứ điều 2, khoản 2 của Bộ Luật đất đai năm 1993 mà UBND huyện đã nêu, vì chúng tôi quản lý phần đất trên trước năm 1975 (trước ngày đất nước thống nhất) cho đến năm 1988 thì UBND xã đã chiếm đất để cấp cho người khác. Trong thời gian Linh mục Nguyễn Văn Huy làm Quản xứ tại đây, hằng năm Linh mục đã trồng khoai trên đất này quan những vụ đông (đất ông Quỳnh đang ở). Còn phần đất phía trên (đất ông Tuấn đang ở) thì Họ giáo cho ông Tuấn trồng khoai và chất rơm. Hằng năm, đến ngày lễ bổn mạng của Họ giáo, ông Tuấn đã cúng tiền hương khói cho Nhà thờ Họ giáo.
- Chúng tôi không công nhận quyết định này, bởi vì chúng tôi đã không công nhận quyết định của UBND xã, mà UBND huyện lại dựa trên quyết định của UBND xã để giải quyết.
- Đàng khác, chúng tôi chỉ nhận được bản quyết định này vào ngày 31-01-2004, trong khi đó bản quyết định ký ngày 26-10-2001. Vả lại, bản quyết định mà chúng tôi nhận được chỉ là bản sao (photo), không có bản gốc. Theo qui định của Pháp luật thì phải chuyển giao văn bản đến người có liên quan trong thời gian sớm nhất, chứ không phải để vài năm sau rồi gửi. Lúc đó, hiệu lực văn bản sẽ không có giá trị áp dụng.
Từ quan điểm trên, chúng tôi không đồng ý việc quí lãnh đạo có thẩm quyền đã cấp thẻ đỏ cho ông Trần Ngọc Quỳnh, và việc làm sai luật pháp khi cấp thẻ đỏ này mà không có ý kiến của Họ giáo liên quan đến mảnh đất được cấp thẻ đỏ. Như thông thường, khi cấp thẻ đỏ cho một người nào đó, trước tiên gia đình muốn cấp thẻ đỏ phải xin sự xác nhận của các gia đình chung quanh về ranh giới phần đất của mình, hầu tránh những tranh tụng sau này.
Như vậy, UBND xã Phú Diên chiếm đất của Họ giao chúng tôi không có căn cứ pháp luật.
Vì thế, kính đề nghị các cấp có thẩm quyền liên quan trả lại những mảnh đất thuộc quyền sở hữu của chúng tôi đã có từ lâu, như điều 255 khoản 2 của Bộ Luật dân sự: “Người chiếm hữu tài sản thuộc sở hữu toàn dân, không có căn cứ pháp luật, thì dù ngay tình, liên tục, công khai, dù thời gian chiếm hữu là bao lâu cũng không thể trở thành chủ sở hữu tài sản đó”.
Chúng tôi đã bao lần khiếu kiện đến quí cơ quan có thẩm quyền, nhưng vẫn không thấy tin tức gì. Hôm nay, một lần nữa, chúng tôi thiết tha yêu cầu quí cơ quan xem xét giải quyết vấn đề nêu trên của chúng tôi.
Rất mong quí cơ quan, đoàn thể xem xét giải quyết
Trân trọng kính chào.
|
Phú Diên, ngày 17-02-2004 |


Người nhà của ông Quỳnh chăng giây, chuẩn bị đào móng.
Các nữ giáo dân tràn xuống hiện trường. Ông Quỳnh mặc áo đà, quần đen, cầm điếu thuốc, gần giữa hình.
Cô Nguyễn Thị Thu Hà, mặc áo trắng, hai tay để sau gáy, đang cùng với các nữ giáo dân phản đối việc xây nhà.
Các nữ giáo dân ngồi bệt xuống hiện trường. Ông Quỳnh, áo đà, tay tì trên cái đầm, đứng nhìn. Một người bà con của Quỳnh đang quay phim.
Các nữ giáo dân đang vứt những viên đá móng ra khỏi đất nhà thờ. Tiền ảnh, phía phải là Nguyễn Văn Lộc, mặc áo sơmi trắng, kẻ chốc nữa sẽ ném đá vào ngực bà Nguyễn Thị Ty 65t.
Bà Nguyễn Thị Ty gục xuống, nằm dài trên đất. Nguyễn Văn Lộc bỏ chạy.
Hai bà già giáo dân khác đang săn sóc cho bà Ty.
Các giáo dân bỏ ăn trưa, ngồi lì tại hiện trường cho đến chiều tối. Nạn nhân vẫn nằm đợi nhân viên công lực tới lập biên bản và cứu giúp, nhưng vô vọng!
II. Cha Nguyễn Hữu Giải vạch trần chính sách thâm độc của Cộng sản
hay “Tường trình về cuộc gặp gỡ giữa Ban Tôn giáo tỉnh Thừa Thiên-Huế với Tổng giáo phận Huế tại tòa giám mục Huế ngày 20-02-2004 từ 9g-11g”.
1- Thành phần tham dự :
- Ban Tôn giáo tỉnh : 5 cán bộ do ông Dương Viết Hồng, trưởng ban hướng dẫn. Bốn vị kia là các ông Lễ, Lộc, Toàn, Hảo (không rõ họ).
- Tổng giáo phận Huế : Đức TGM Têphanô Nguyễn Như Thể, Linh mục Tổng đại diện, 5 Linh mục Hạt trưởng, Giám đốc Đại chủng Viện Huế, Đan viện phụ Thiên An, Bề trên dòng Chúa Cứu Thế, Bề trên dòng Thánh Tâm, Bề trên 5 dòng nữ (Cát minh, Con Đức Mẹ Vô Nhiễm, Đức Bà Đi Viếng, Mến Thánh Giá, Phaolô), Linh mục thành viên Hội đồng Nhân dân, hai giáo dân hạt thành phố Huế. (Vắng mặt Sư huynh đại diện dòng La San).
2- Mục đích cuộc gặp gỡ :
Đây là sáng kiến của Ban Tôn giáo, muốn có cuộc mạn đàm đôi bên để trao đổi những vướng mắc hầu đề nghị Ủy ban Nhân dân tỉnh giải quyết, cũng như để trình bày đường lối chính sách tôn giáo của Nhà nước CS.
3- Nội dung phần trao đổi :
Trước hết, Đức TGM Giáo phận bày tỏ niềm vui được chào đón Ban Tôn giáo, ngợi khen sáng kiến của BTG, cho rằng đây là một cơ hội quý hóa để BTG phản ảnh những vấn đề của Công giáo lên chính quyền.
Ông Dương Viết Hồng phát biểu: BTG mong được tiếp xúc với Công giáo vài lần mỗi năm, để giải thích chính sách đường lối hoặc đề xuất hướng giải quyết các vụ việc lên UBND tỉnh, vì BTG có nhiệm vụ làm gạch nối giữa tôn giáo với chính quyền. BTG nhận thấy giữa hai bên, những điểm tương đồng thì nhiều còn những vướng mắc thì ít (!?!). Đảng và Nhà nước chủ trương dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh, đúng với nguyện vọng của tôn giáo. Đảng và Nhà nước cũng nhận định tôn giáo luôn cùng tồn tại với dân tộc trong việc xây dựng quê hương.
Tiếp đến là phát biểu của các tham dự viên, gần như theo thứ tự : tu sĩ, giáo dân, linh mục, cán bộ tôn giáo (Chúng tôi xin phép quy lại thành từng nhóm, dù trong thực tế đôi lúc có xen kẽ hoặc tái phát biểu).
- Dòng Con Đức Mẹ Vô Nhiễm : Các giáo phận khác được đi du học nhiều, đang khi Huế thì ít. Mong chấm dứt sự giới hạn này. Riêng dòng chúng tôi có làm y tế , mở trạm xá để phục vụ nhân dân nhưng lại gặp nhiều khó khăn trong việc nhận thuốc từ ngoại quốc gởi về. Trường cấp 3 Mai Khôi của dòng ở 46 Chi Lăng, thành phố Huế (nhà nước quản lý từ năm 1975), bị biến từ cơ sở giáo dục thành nơi ở cho cán bộ. Yêu cầu trả lại cho chúng tôi.
- Dòng Mến Thánh Giá : Các thiếu nữ xin tìm hiểu ơn gọi gặp phải nhiều khó khăn. Các chị em đã “tu học thành xơ” lại không được nhập hộ khẩu. Các cơ sở giáo dục (= trường mẫu giáo) thiết lập trong khuôn viên nhà dòng bị nhà nước buộc phải tách ra thành khu vực riêng. Điều đó gây nhiều khó khăn bất tiện. Năm nào chúng tôi cũng làm đơn xin xét lại vấn đề này nhưng không được giải quyết.
- Dòng Đức Bà Đi Viếng : Khu cư xá của dòng dành cho các đệ tử lên thành phố học, ở đường Nguyễn Tri Phương và có từ năm 1970, đã bị Nhà nước tịch thu sau 1975. Chúng tôi đã làm đơn xin lại. Giấy tờ lòng vòng từ địa phương ra trung ương, đến nay vẫn không được xem xét, đang khi khu cư xá thì bị biến dạng và cải dụng nhiều lần. Ngoài ra, chính quyền mới đây vừa thâu hồi 4 mẫu đất của dòng tại Bãi Dâu, Phú Hậu, vừa bắt nộp thuế (hồi tố) về 4 mẫu đất đó, chỉ chừa lại cho 2 sào! Dòng xin xây nhà khuyết tật, trạm xá trên mảnh đất thừa thẹo này nhưng cũng không được.
- Dòng Thánh Phaolô : Viện Dục anh Kim Long có từ hơn 100 năm, sau 1975 bị tịch thu và cải biến thành bệnh viện thành phố. Tới nay, cơ quan quản lý cơ sở này đã bán bớt đất hoặc cho cán bộ xây nhà riêng. Ngôi nhà nguyện của viện, chúng tôi đã làm đơn xin lại nhiều lần để tái dùng làm nơi thờ phượng nhưng nhà nước vẫn không phúc đáp. Trường nữ trung học Jeanne d’Arc của chúng tôi (mang tên mới là trường Nguyễn Trường Tộ, nhà nước quản lý từ 1975) nay bị cắt xén thành 5, 6 mảng và dùng vào nhiều việc.
- Dòng Thiên An : Từ năm 1998 đến nay, chúng tôi đã gửi nhiều văn thư phản đối việc Nhà nước tịch thu 102 trên 107 ha đất của chúng tôi, chỉ chừa lại khu nhà ở và vườn cam, nhưng vẫn không được giải quyết. Nay thì Thiên An biến thành nơi không trong sạch. Ngay cả đồi Thánh giá (nơi chúng tôi không còn được lui tới) đã hóa nên tụ điểm của các tệ nạn xã hội.
- Dòng Thánh Tâm: Khi giao toàn bộ cơ sở của nhà mẹ tại Phường Đúc cho nhà nước, chúng tôi đã yêu cầu được giữ lại nghĩa trang. Nay nghĩa trang này cũng bị Nhà nước chiếm lấy.
- Dòng Chúa Cứu Thế : Cộng đoàn chúng tôi ở Huế phần lớn là các linh mục già lão. Bề trên đã sai tới nhiều vị trẻ hơn để thay thế. Nhưng vấn đề hộ khẩu gặp quá nhiều khó khăn.
- Đại Chủng Viện Huế : Đơn xin giáo sư tới dạy được giải quyết quá chậm. Việc chiêu sinh lẽ ra phải có hàng năm.
- Chủ tịch Hội đồng giáo xứ Phanxicô : Từ năm 2001, chúng tôi đã làm đơn xin xây lại tháp chuông nhà thờ (sụp đổ năm Mậu Thân), nhưng tới nay vẫn chưa được phép. Giáo xứ trước đây có cơ sở kinh tài là một dãy nhà hai tầng, cho các giáo sư đại học thuê. Sau 1975, nhà nước tịch thu cơ sở này, cho cán bộ lẫn dân thường thuê và nay thì đã hóa giá trọn vẹn.
- Một nguyên giáo sư đại học (thuộc giáo xứ Phủ Cam) : Xin phát triển các mặt tốt của tôn giáo. Cụ thể là tạo điều kiện để các tôn giáo được đóng góp nhiều hơn vào việc giáo dục.
- Cha hạt trưởng hạt Hương Phú (Nguyễn Hữu Giải) trước tiên xem xét vấn đề lý thuyết: nguyên tắc của chế độ, chính sách của nhà nước (vì đây là lời phát biểu dài nhất, mạnh mẽ nhất và đi vào trọng tâm nhất, chúng tôi xin đăng lại nguyên văn ở cuối bài), tiếp đến là vấn đề thực tế: yêu cầu nhà nước sớm giải quyết chuyện Kế Sung (theo Đơn khiếu nại lần 2 của linh mục quản xứ ngày 17-2-04, xin xem trên), trả lại Tiểu Chủng viện Hoan Thiện vốn đang bị chia năm xẻ bảy và biến dạng nhiều. (Chú thích: cha Giải nguyên là giám đốc TCV 1975-1979).
- Cha hạt trưởng hạt Quảng Trị (Nguyễn Vinh Gioang) : Yêu cầu chính quyền phá bỏ con đường trước nhà thờ Kế Sung. Nó vừa xâm phạm đất tư, vừa làm mất mỹ quan, vừa phá bầu khí linh thiêng, lại vừa nguy hiểm. Hôm 29-01, tôi và cha Lê Văn Hồng về thăm giáo xứ. Đang khi chúng tôi đứng tại sân nhà thờ, trên con đường mới làm đó thì đã bị một số thanh niên lạng lách xe máy qua giữa chúng tôi nhiều vòng, như muốn gây tai nạn cho chúng tôi.
- Cha hạt trưởng hạt Hương Quảng Phong (Lê Thanh Hoàng) : Tại giáo xứ Hương Lâm thuộc hạt do cha Nguyễn Tưởng cai quản, chính quyền mới đây đã ra lệnh tháo dỡ ngôi nhà ngài xây dể dạy thêm cho các em học sinh. Muốn đất nước đi lên thì phải để cho người dân có cơ hội và tự do góp phần. Chính quyền chớ có tự ái đến nỗi chuyện gì cũng đòi buộc xin phép đã.
- Cha hạt trưởng hạt Hải Vân (Lê Sĩ Hiền) : Cha Hoàng Cẩn gặp nhiều khó khăn khi làm mục vụ tại giáo xứ Xuân Lộc; đất đai thuộc giáo xứ Loan Lý của cha Cái Hồng Phượng thì bị tranh chấp đã hơn ba năm nay, tới rày chưa giải quyết; giáo xứ Sao Cát có nhiều cơ sở bị nhà nước chiếm dụng mấy chục năm rồi, chúng tôi đòi vẫn không trả; hai ngàn dân Công giáo tại một vùng sâu thuộc giáo xứ Nước Ngọt tới nay vẫn chưa có điện dùng, mặc dù đường điện cao thế đi ngang trên đầu họ. Và cha Hiền bất ngờ kết luận bằng một câu khiến các cán bộ phẫn nộ và chưng hửng: “Nói mà không làm!”
- Cha hạt trưởng hạt Thành Phố (Nguyễn Trọng) : Có con người là có văn hóa, có văn hóa là có tôn giáo. Thế mà ở A Sao, Nam Đông tới nay vẫn chưa được phép xây nhà thờ !
- Cha thành viên Hội đồng Nhân dân (Trần Văn Quí) : Tiểu chủng viện Sài gòn đã được trả lui, TCV Huế cũng cần được như vậy. Các ứng viên Đại chủng viện nên để cho Giáo hội tự chọn và việc chiêu sinh vào Đại chủng viện nên có hàng năm. Các tôn giáo cần được mở tư thục các cấp để giáo dục giới trẻ ngày càng suy đồi và cứu vãn nền giáo dục ngày càng sa sút. Phải để cho các tôn giáo có báo chí riêng, nhà in riêng và được ấn hành sách vở tài liệu đầy đủ. Nên bãi bỏ thi cử vào dịp lễ Giáng sinh. Hủ tục này kéo dài đã gần 30 năm rồi !
Người duy nhất không phát biểu bên Công giáo là cha Tổng đại diện Nguyễn Đức Vệ.
Sau khi lắng nghe mọi ý kiến, ông Trưởng ban Tôn giáo trả lời: “Trong những vấn đề Quí vị vừa nêu, có cái đúng, cái chưa đúng, cái còn chờ; có những vấn đề vĩ mô thuộc chủ trương chính sách, có những vấn đề vướng mắc cụ thể, liên quan đến nhiều cơ quan, muốn giải quyết phải cần nhiều thời gian. Vả lại dân chủ có nhiều cách, nhiều nghĩa ...” (!?!)
Ông Lễ, Phó ban phát biểu: “Giáo phận lúc này có phát triển: trên 100 linh mục (chú thích của nhóm phóng viên: ngay trước 1975 là 170 vị), số giáo dân tăng lên 68.740 người (trước 1975: trên 120 ngàn), 67 cơ sở thờ tự được tu sửa và 92 vị được đi nước ngoài (chú thích của npv: để họp, để học, để thăm viếng kể từ 1975 !), nay thì có thêm Trung tâm Mục vụ. Các khó khăn có thể chia thành 3 loại: loại về đất đai nhà cửa, loại về hộ khẩu, loại về chủ trương chính sách. Loại 1 và 2 dễ giải quyết thôi! Loại 3 thuộc thẩm quyền cấp trên”.
Kết luận, Đức TGM đã phát biểu: “Xin cảm ơn nhà nước đã lắng nghe. Việc tham mưu góp ý là rất quan trọng. Chúng tôi cũng hiểu rằng Ban Tôn giáo nằm trong bối cảnh chung là cơ chế chồng chéo nhau và cán bộ cơ sở cường hào. Nhưng phải làm sao tin tưởng nhau thì mới đại đoàn kết được! Riêng sự biến Kế Sung: tình cảm tôn giáo bị đụng chạm, con đường quá chướng mắt. Nhà nước làm sao cho êm đẹp !”
*** Và dưới đây là nguyên văn lời phát biểu soạn sẵn của cha Phêrô Nguyễn Hữu Giải:
“Điều 4 Hiến pháp nước CHXHCNVN viết: “Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội” (Hiến pháp 1992).
Từ điều 4 này, chúng ta rút ra được hai nguyên tắc:
1- Đảng CS là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội, nghĩa là quản lý trọn vẹn đất nước. Nói cách khác, Đảng chủ trương toàn trị, tức là cai trị vẹn toàn những gì có trên đất nước Việt Nam, nắm trong tay mọi quyền lực: quyền lực lập pháp là Quốc hội, quyền lực tư pháp là Viện kiểm sát và Tòa án, quyền lực hành pháp là Chính quyền hay Nhà nước, quyền lực vũ khí là quân đội và công an, quyền lực công luận là báo đài, và quyền lực đạo đức tinh thần là tôn giáo. Tất cả phải trở thành công cụ trong tay của Đảng, được Đảng dùng để cai trị đất nước và nhân dân, hầu đưa đất nước tiến lên Chủ nghĩa Xã hội.
2- Chủ nghĩa Mác-Lênin là ý thức hệ chỉ đạo, hướng dẫn tâm trí mọi người dân Việt. Đó là chủ nghĩa duy vật vô thần triệt để, làm linh hồn cho chế độ vô thần đấu tranh. Trên thế giới, có quốc gia theo chế độ thần quyền hay quốc giáo, ưu đãi một tôn giáo chính và chèn ép mọi tôn giáo phụ; có quốc gia theo chế độ thế tục, dửng dưng với mọi tôn giáo hay coi mọi tôn giáo đều như nhau. Riêng các nước CS như Việt Nam, Trung Quốc, Cuba, Bắc Hàn theo chế độ vô thần đấu tranh, nhắm mục tiêu làm cho tôn giáo nếu không bị tiêu diệt về cơ cấu và nhân sự thì bị tiêu diệt về bản chất và vai trò, nghĩa là có thể tồn tại nhưng trở thành công cụ trong tay Đảng.
Hai nguyên tắc này được thể hiện trên lý thuyết thành chính sách tôn giáo. Nội dung của chính sách này được tóm tắt (qua Nghị định 26/CP ngày 19-4-1999, điều 7 và 8: “Tín đồ có quyền thực hiện các hoạt động tôn giáo không trái với chủ trương, chính sách và pháp luật của Nhà nước, tiến hành các nghi thức thờ cúng, cầu nguyện tại gia đình và tham gia các hoạt động tôn giáo, học tập giáo lý, đạo đức, phục vụ lễ nghi tôn giáo tại cơ sở thờ tự... Tổ chức tôn giáo có tôn chỉ, mục đích, đường hướng hành đạo, cơ cấu tổ chức phù hợp với pháp luật và được Thủ tướng Chính phủ cho phép hoạt động thì được pháp luật bảo hộ”; (qua câu nói sau đây của Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về Công tác Tôn giáo tháng 1-2003: “Các giáo hội và tổ chức tôn giáo nào có đường hướng hành đạo gắn bó với dân tộc, có tôn chỉ, mục đích, điều lệ phù hợp với luật pháp Nhà nước, có tổ chức phù hợp và bộ máy nhân sự đảm bảo tốt về cả hai mặt đạo, đời thì sẽ được Nhà nước xem xét trong từng trường hợp cụ thể để cho phép hoạt động”; (hay qua lời Nhà nước mới đây đã đặt trên miệng cha Nguyễn Văn Lý: “Đại đoàn kết toàn dân để đạt tới mục tiêu xây dựng Chủ nghĩa Xã hội mới của VN ... Xây dựng CNXH mới này là đạo đức cao đẹp bao trùm toàn dân. Tôn giáo càng nhiệt tình xây dựng CNXH mới này, càng có thêm tự do cần thiết” (Thư gởi Hội đồng GMVN ngày 17-4-2003), hoặc “Nhà nước VN không đàn áp tôn giáo, chỉ có một số giới hạn theo tiêu chí của Việt Nam làm một số người không vừa ý, nhưng Nghị quyết Hội nghị 7 Ban Chấp hành Trung ương khóa 9 của Đảng CSVN tháng 01-2003 đã xác định: Tôn giáo đang và sẽ tồn tại cùng Dân tộc trong quá trình xây dựng Chủ nghĩa Xã hội tại VN; đã có hướng giải quyết thỏa đáng tự do tôn giáo cho 6 tôn giáo chính thức tại VN” (Thư gởi Quốc hội Hoa Kỳ ngày 27-6-2003), hoặc “Hiện nay tại VN các công dân nào nhiệt tình ( ít ra không làm gì tỏ ra cản trở (xây dựng Chủ nghĩa Xã hội thì có đủ tự do tôn giáo và các tự do cần thiết khác, trong khuôn khổ Hiến pháp và Pháp luật của Nhà nước Việt Nam” (Thư gởi Nghị viện Châu Âu và Hạ viện Hoa Kỳ ngày 08-12-2003).
Trong thực tế, nguyên tắc và chính sách, tùy nơi và tùy lúc, được thực hiện bằng nới lỏng hay siết chặt, nương tay hay thẳng tay, ban ơn hay cấm đoán, khoan hồng hay đàn áp, dung túng hay triệt hạ, tùy như các tôn giáo hay các giáo hội im lặng hay lên tiếng, quy phục hay độc lập, thỏa hiệp hay đối đầu, ngoan ngoãn vâng lời hay đòi hỏi tự quản, nhắm mắt làm ngơ hay phê bình thẳng thắn. Hơn nửa thế kỷ qua đã chứng tỏ điều này.
Thành ra vấn đề không nằm ở chỗ giải quyết các vụ việc tranh chấp mà nhà nước thường gọi là những hiện tượng không phản ảnh bản chất, những sai trái của cấp dưới ngược với ý cấp trên, những tồn tại của các hoàn cảnh hay thành kiến lịch sử, những dò dẫm hay vấp váp khi thi hành chính sách. Vấn đề chủ yếu là phải thấy rằng những hiện tượng ấy (xảy ra thường xuyên, mọi nơi mọi lúc, vô vàn vô số (bộc lộ bản chất của một chế độ toàn trị, vô thần đấu tranh, của một chính sách tiêu diệt bằng cách công cụ hóa tôn giáo. Theo nền triết học chính danh của nhân loại, tuỳ thể bao giờ cũng bộc lộ bản thể, thuộc tính lúc nào cũng bày tỏ bản tính, nhất là khi các tùy thể này, các thuộc tính này được phát hiện thường xuyên.
(Cha Giải đọc ngang đây thì điện thoại di động của ông Hồng reo lên. Theo suy đoán, đó là chuông báo động của toán công an phục bên ngoài toà TGM và đang theo dõi qua máy tiếp âm. Hồi chuông đó hẳn vừa nhắc nhở đoàn cán bộ vừa phá thối bài phát biểu. Mặc, cha Giải tiếp tục đọc và đọc to hơn).
Nên giải pháp cho vấn đề tôn giáo, vấn đề tự do tôn giáo, vấn đề những tranh chấp động tới tôn giáo chính là:
- bỏ nguyên tắc độc tài toàn trị và vô thần đấu tranh.
- bỏ chính sách tiêu diệt tôn giáo bằng phương thức công cụ hóa các giáo hội.
- coi mọi công dân tôn giáo như mọi công dân khác và thực là công dân của đất nước chứ không phải thần dân của nhà nước.
- trước mắt, phải giải quyết mọi tranh chấp theo đúng pháp luật, với một tòa án độc lập và đủ thẩm quyền.
Để kết luận, tôi xin kể một câu chuyện: Năm 1976, đang khi làm giám đốc TCV Hoan Thiện, tôi phải đi thi lấy bằng lái xe Honda 50cc tại một nơi gần nhà. Bắt đầu phần thi vấn đáp, viên cán bộ khảo thí đột nhiên hỏi tôi: “Này Linh mục, người Cộng sản như tôi có vô thần không ?”. Tôi đáp: “Anh vô thần sao được ! Chính Thượng Đế đang ở trong anh qua lương tâm mà. Đó là tiếng của Ngài đang đặt và đang nói trong anh !”. “Hoan hô ! Linh mục nói rất phải !”. Đoạn anh ta hỏi vài câu qua loa rồi cho tôi đậu. Hôm nay, tôi cũng muốn thưa với Quý vị đại diện chính quyền: Mở đầu, ông Trưởng ban đã cho biết BTG lấy đạo đức mà hành động. Vậy thì chúng tôi hy vọng đó là dấu hiệu tốt và mong rằng Quý vị sẽ theo đạo đức lương tâm, tức theo tiếng nói của Thiên Chúa, mà giải quyết mọi vấn đề !”
Nhóm phóng viên tường trình từ Huế.
Lần tới: Bản Báo cáo và Kiến nghị đầy gian trá áp đặt của Đoàn giám sát thuộc Hội đồng Nhân dân tỉnh TT-H về vụ Kế Sung (12-2-04) cũng như những phân tích, vạch trần, nhận định về Bản báo cáo này. Xin Quí vị đón xem.