Vụ Án Nguyễn Vũ Bình


Câu Lạc Bộ Dân Chủ Việt Nam

Điện Thư - Số 14
Tháng 12 năm 2003

Điện Thư Câu Lạc Bộ Dân Chủ xin trân trọng kính chuyển đến các Diễn Đàn Điện Tử, Cơ Quan Ngôn Luận và Độc Giả trong và ngoài nước các tin tức, sự kiện và bài vở liên quan đến tình hình dân chủ Việt Nam. Như đã minh định qua bản thông cáo và thư ngỏ của Câu Lạc Bộ Dân Chủ trước đây, sự đàn áp thô bạo của cơ chế độc tài sẽ không làm chùn bước và bịt miệng được các tiếng nói tranh đấu dũng cảm cho nền dân chủ Việt Nam - Chắc Chắn Đồng Lòng Sẽ Bẻ Gãy Họng Súng Của Độc Tài. Mọi liên lạc xin gửi về : caulacbodanchuvietnam@yahoo.com

----- O -----

Số Đặc Biệt Về Nguyễn Vũ Bình

Nguyễn Vũ Bình : “ Với tâm niệm rằng, cần phải có một đảng chân chính và trung thực ngay từ buổi đầu thành lập, bằng phương thức đấu tranh công khai và hoà bình cho Tự do và Dân chủ ở Việt Nam. Tôi biết rằng, có thể tôi sẽ phải hy sinh nhưng vẫn tin tưởng tuyệt đối là : Lịch sử sẽ sang trang, nhân dân Việt Nam nhất định sẽ được hưởng Tự do và Dân chủ trong một tương lai không xa nữa. Và trên nền của Tự do và Dân chủ, nhân dân Việt Nam sẽ làm cho cả thế giới phải kinh ngạc về dân tộc mình, đất nước mình không kém những gì họ đã làm trong lịch sử"

----- O -----

Câu Lạc Bộ Dân Chủ Việt Nam

Thông Báo Về Phiên Tòa Xử Anh Nguyễn Vũ Bình

Hà Nội/California: 24 tháng 12 năm 2003 - Câu Lạc Bộ Dân Chủ Việt Nam trân trọng thông báo đến các Cơ Quan Báo Chí, Hội Bảo Vệ Nhân Quyền, Hội Ân Xá Quốc Tế, Đồng bào trong và ngoài nước về phiên tòa xử anh Nguyễn Vũ Bình:

Cám ơn sự hổ trợ của quý vị.

Nam Trần
Câu Lạc Bộ Dân Chủ Việt Nam

=====================

Hà Nội, ngày 19 tháng 7 năm 2002

Bản điều trần về tình trạng nhân quyền tại Việt Nam

Kính gửi: Ủy ban Nhân quyền - Quốc hội liên bang Hoa Kỳ

Tôi rất xúc động khi nhận được lời mời tham dự cuộc điều trần trước Quốc hội liên bang Hoa Kỳ. Tôi xin thành thật cảm ơn bà Loretta Sanchez và Ủy ban Nhân quyền của Quốc hội đã cho tôi cơ hội quý báu này để phản ánh và bày tỏ quan điểm của mình về tình trạng nhân quyền tại Việt Nam. Về tình trạng quyền con người bị vi phạm, chúng tôi, những người đấu tranh cho dân chủ và thân nhân của những người bị bắt giam, đã cùng ký vào một bản kiến nghị tập thể ngày 6 tháng 7 năm 2002 để nêu lên nhiều vụ đàn áp nhân quyền điển hình như sau:

1. Ngày 25 tháng 4 năm 2001, hai ngày sau khi ông Nông Đức Mạnh nhậm chức Tổng Bí Thư, công an Hải Phòng chặn bắt ông Vũ Cao Quận rồi tống giam ông suốt 9 ngày chỉ để tra hỏi về các bài viết của ông và của các nhà trí thức khác.

2. Ngày 12 tháng 7 năm 2001, công an thành phố Hồ Chí Minh chặn bắt để cướp đoạt bản ghi chép những cảm nhận của Tướng Trần Độ về Đại Hội IX.

3. Ngày 5 tháng 9 năm 2001, chỉ vì lá đơn xin thành lập Hội Nhân Dân Ủng Hộ Nhà Nước Chống Tham Nhũng mà ông Phạm Quế Dương, ông Trần Khuê, ông Hoàng Minh Chính cùng gần 20 người khác đã bị bắt bớ hay bị sách nhiễu.

4. Suốt tháng 9 và tháng 10 năm 2001, nhà nước đã cho dựng lại cảnh đấu tố khắp các khu dân cư đối với các ông Hoàng Minh Chính, Phạm Quế Dương, Nguyễn Thanh Giang, Lê Chí Quang.

5. Cuối năm 2001, công an chặn đường bắt nhà thơ Bùi Minh Quốc, sau khi ông thực hiện một chuyến đi tìm hiểu về vấn đề biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc. Hiện nay ông đang bị quản chế 2 năm tại nhà. Cùng bị đẩy vào cảnh tù tại nhà hiện nay còn có nhà xã hội học Trần Khuê, tiến sĩ sinh vật học Hà Sĩ Phu.

6. Tháng 1 năm 2002 thứ trưởng Bộ Văn Hóa Thông Tin Phan Khắc Hải ký quyết định truy tầm và tiêu hủy một số sách của những người dân chủ. Quyết định này là một sự chà đạp trắng trợn quyền tự do tư tưởng và ngôn luận.

7. Trong mấy tháng qua, nhà cầm quyền đã bắt giam hàng loạt anh em trẻ với những lý do không xác đáng, như Nguyễn Khắc Toàn, Lê Chí Quang, Phạm Hồng Sơn.

8. Cắt điện thoại cả gia đình của các ông: Hoàng Minh Chính, Phạm Quế Dương, Hoàng Tiến, Trần Khuê, Trần Dũng Tiến, Hà Sĩ Phu, Nguyễn Đan Quế, Bùi Minh Quốc, Nguyễn Thanh Giang, Nguyễn Vũ Bình...

9. Sách nhiễu, giam cầm hàng loạt tín đồ và các chức sắc tôn giáo.

Từ những vụ đàn áp nêu trên và nhiều vụ xảy ra trong quá khứ, bản thân tôi có một số nhận định về tình trạng nhân quyền tại Việt Nam như sau:

- Việc vi phạm quyền con người từ phía nhà cầm quyền Việt Nam đã diễn ra thường xuyên, liên tục và có hệ thống. Cùng với sự hội nhập và mở rộng thông tin, nhận thức chung của nhân dân Việt Nam đã được nâng cao. Điều này tất yếu dẫn tới việc những tiếng nói đấu tranh cho tự do dân chủ, tự do tôn giáo, vv.. được cất lên ngày càng nhiều và mạnh mẽ hơn. Song song với quá trình đó là sự đàn áp của nhà nước với tất cả những thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt. Sự đàn áp này luôn luôn vi phạm những quyền cơ bản của con người mà trong chính hiến pháp, cũng như những hiến chương về quyền con người được nhà nước Việt Nam ký kết. Trong một vài năm trở lại đây, trước tình hình bùng phát của những tiếng nói dân chủ và khả năng kết hợp của họ, sự vi phạm những quyền cơ bản của con người ngày càng gia tăng cả về cường độ và tính chất trắng trợn. Xu hướng này không mất đi mà còn tiếp tục trong thời gian tới.

- Tình trạng vi phạm nhân quyền của nhà nước Việt nam trong thời gian dài rất bùng nhùng, lúc được cải thiện, lúc rất nặng nề. Sự lên án và can thiệp của các chính phủ dân chủ và các tổ chức bảo vệ nhân quyền mới chỉ đem lại những kết quả rất hạn chế. Và nhiều khi diễn ra tình trạng "bắt cóc bỏ đĩa". Có tình hình đó là do hai nguyên nhân: lực lượng dân chủ trong nước chưa đủ mạnh để có thể tự bảo vệ và sức ép quốc tế lên nhà nước Việt Nam còn rất tản mạn, thiếu tập trung và sự đồng loạt.

Qua quá trình tìm hiểu, theo dõi và nghiên cứu tình hình vi phạm nhân quyền và phong trào dân chủ, tôi có một số suy nghĩ về những giải pháp khả dĩ có thể hạn chế, ngăn chặn và tiến tới xóa bỏ tình trạng vi phạm nhân quyền.

Trước hết và trên hết, bản thân những người, nhóm người thường xuyên bị xâm phạm những quyền cơ bản cần có phương cách tự bảo vệ mình. Mục tiêu tối thượng của nhà nước Việt Nam là cô lập, chia rẽ và phân hóa những chiến sỹ đấu tranh cho dân chủ để bằng mọi giá ngăn chặn sự kết hợp có thể xảy ra. Họ thực hiện điều này bằng chiến thuật đánh tỉa, bằng tất cả các thủ thuật và thủ đoạn đối với từng đối tượng mà họ đã nghiên cứu kỹ lưỡng. Vậy thì để đối phó với tình hình đó, còn có gì khác hơn là sự co cụm và nương tựa lẫn nhau giữa những người cùng chí hướng đấu tranh cho dân chủ? Sự kết hợp này cần phải tính đến bối cảnh trong nước và quốc tế cũng như tình hình thực tế của phong trào dân chủ hiện nay. Và theo tôi, nó phải được công khai dựa trên những mục tiêu mà phần lớn nhân dân có thể ủng hộ.

Sự kết hợp của những con người can đảm thực hiện quyền con người ở Việt Nam không chỉ tạo ra sức mạnh tự bảo vệ, mà còn thay đổi đối tượng để các chính phủ dân chủ và các tổ chức bảo vệ nhân quyền thực hiện sự bảo vệ hiệu quả hơn rất nhiều. Không những thế, họ còn nhìn thấy tương lai của sự thay đổi thông qua sự kết hợp này và điều đó sẽ thúc đẩy họ quyết tâm hơn trong việc gia tăng sức ép và sự can thiệp của mình.

Về phía những Chính phủ dân chủ và các tổ chức bảo vệ nhân quyền thì điều quan trọng nhất là tìm ra được "gót chân Asin của cộng sản Việt Nam", và cách thức gây sức ép hiệu quả nhất để bảo vệ nhân quyền. Đây quả thực không phải là điều dễ dàng bởi vì tình hình Việt Nam đầy rẫy những mâu thuẫn và làm bối rối rất nhiều nhà phân tích. Nhưng theo lô-gic thông thường thì đối với một đất nước đang trong quá trình Công nghiệp hóa, Hiện đại hóa và hơn nữa, với một số lượng khổng lồ đội ngũ nhân viên ăn lương ngân sách thuộc các hệ thống Đảng, Nhà nước, Chính phủ và đoàn thể từ trung ương đến địa phương thì cái mà họ cần chắc không ngoài đô-la. Điều quan trọng nhất là việc sử dụng tiền sai mục đích đã che dấu được tử huyệt của chế độ này.

Tuy nhiên, với khả năng xoay sở và sự lì lợm, nhà nước cộng sản này chỉ nhân nhượng và chịu thỏa hiệp khi sức ép quốc tế lên nó bảo đảm được yêu cầu đồng loạt với một quyết tâm cao. Tôi được biết là Hạ Viện Mỹ đã thông qua Dự Luật Nhân Quyền cho Việt Nam, với một tỷ lệ rất cao là 410/1. Những người đấu tranh cho dân chủ Việt Nam vô cùng phấn khởi trước sự kiện này và bày tỏ sự cảm kích đối với những dân biểu Hoa Kỳ đã hỗ trợ để dự luật này được thông qua. Trong thời gian qua, đảng cộng sản Việt Nam đã kịch liệt phản đối và tìm cách vận động, áp lực để Hoa Kỳ hủy bỏ Dự Luật Nhân Quyền cho Việt Nam. Tôi cho rằng đây là lúc mà Hoa Kỳ phải bày tỏ quyết tâm hỗ trợ nhân dân Việt Nam bằng cách chính thức thông qua Dự Luật này, vì tôi tin rằng nó sẽ giúp cải thiện tình trạng nhân quyền tại Việt Nam.

Kính thưa quí vị,

Bối cảnh Việt Nam hiện nay tương đối thuận lợi để thực hiện những những kế hoạch mang tính đột phá trong công cuộc bảo vệ nhân quyền và vận động dân chủ. Uy tín của Đảng cộng sản Việt Nam đã giảm sút tới mức thảm hại sau vụ án Trương Văn Cam và đồng bọn (còn gọi là vụ án Năm Cam); kế hoạch cắt giảm thuế vào AFTA chuẩn bị bắt đầu... Và cuối cùng, tôi luôn luôn quan niệm, chỉ có thể ngăn chặn và xóa bỏ tận gốc tình trạng vi phạm nhân quyền tại Việt Nam khi thực hiện được điều đó trên phạm vi quốc gia, tức là thành công trong công cuộc dân chủ hóa đất nước. Vì vậy, tất cả những giải pháp đấu tranh bảo vệ nhân quyền cần hướng tới mục tiêu cao nhất mà nhân dân Việt Nam hằng mong ước: tự do cá nhân và dân chủ cho toàn xã hội.

Tôi xin chân thành cảm ơn quí vị!

Nguyễn Vũ Bình
Nhà 26, tổ 67b, p Vĩnh Tuy
Quận Hai Bà Trưng, Hà Nội

----- O -----

The Democracy Club for Viet Nam

Announcement on Mr. Nguyen Vu Binh 's trial

Ha Noi/California: December 24, 2003 - We respectfully announce to the Press, Human Rights Organizations, Amnesty International, people at home and living abroad about Mr. Nguyen Vu Binh's trial:

The Democracy Club for Viet Nam would like to inform Mr. Nguyen Vu Binh's case and asking for your support.

Nam Tran
The Democracy Club For Viet Nam
Thedemocracyclubforvietnam@yahoo.com

----- O -----

Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Độc lập tự do hạnh phúc

Bài bào chữa xét xử ông Nguyễn Vũ Bình
với tội danh gián điệp.

Kính gửi: Toà án nhân dân thành phố Hà Nội,

Tôi là Hoàng Tiến, nghề nghiệp viết văn, công dân nước CHXHCNVN, chỗ ở Nhà A 11 Phòng 420 Thanh Xuân Bắc—Hà Nội, nhận được đơn gia đình thân chủ mời làm bào chữa viên nhân dân cho vụ sơ thẩm xét xử ông Nguyễn Vũ Bình sẽ diễn ra vào ngày 31-12-2003 tại Toà án nhân dân Thành phố Hà Nội. Chiểu theo điều 35 mục C Bộ luật tố tụng hình sự nước CHXHCNVN, tôi chấp nhận lời mời, đề nghị quý toà án Hà Nội tạo điều kiện để tôi được tham dự phiên toà bào chữa cho thân chủ tôi là ông Nguyễn Vũ Bình theo như luật định.

Xin gửi đến quý toà bài bào chữa, đại lược như sau:

Thân chủ của tôi, ông Nguyễn Vũ Bình, sinh ngày 2-11-1968, nguyên phóng viên tạp chí Cộng Sản, bị cơ quan an ninh bắt ngày 25-9-2002 với lý do vi phạm tội gián điệp. Sau 13 tháng giam cầm không cho vợ con gặp mặt (Thời hạn tạm giam để điều tra không được quá 2 tháng đối với tội ít nghiêm trọng, không được quá 4 tháng đối với tội nghiêm trọng. Vậy là đã quá 3 lần tội nghiêm trọng) nay mới được đem ra xét xử.

Bản cáo trạng của Viện kiểm sát khép tội thân chủ tôi, ông Nguyễn Vũ Bình, vi phạm điều 80 Bộ luật hình sự tức tội gián điệp, căn cứ vào những chứng cớ tóm lược như sau:

  1. Ông Nguyễn Vũ Bình đã viết đơn xin thành lập đảng.
  2. Ông Nguyễn Vũ Bình đã viết một số bài mang nội dung xấu.
  3. Ông Nguyễn Vũ Bình liên hệ với phản động bên ngoài.
  4. Ông Nguyễn Vũ Bình đã nhận tiền của nước ngoài.

Tôi là người đã được đọc những bài viết của ông Bình, kể cả lá đơn xin thành lập đảng, và tìm hiểu những quan hệ của ông, nay thấy bản cáo trạng kết tội ông oan trái, xin được bào chữa theo lần lượt các tội trạng ghi trên.

1/ Viết đơn xin thành lập đảng. Lá đơn này ông Nguyễn Vũ Bình viết ngày 2-9-2000 kèm theo là một bài viết phân tích tình hình đất nước mang tiêu đề "Việt Nam và con đường phục hưng đất nước”. Sau khi phân tích cặn kẽ, ông Bình đi đến một quyết định cần phải có một đảng đối trọng như nhiều nước khác trên thế giới để đất nước được phát triển thuận lợi. Xin trích nguyên văn:

"Qua một thời gian nghiên cứu, tìm hiểu về tình hình đất nước, tôi có nhận thức rằng VN hiện nay đang đứng trước một cuộc tổng khủng hong toàn diện về kinh tế, chính trị và xã hội (Tôi xin gửi kèm một bài viết về vấn đề này). Theo nhận định của tôi, trong tương lai không xa nữa, sẽ có một cuộc thay đổi lớn của lịch sử đất nước và đó chính là sự thay đổi về chế độ xã hội. Việc có một lực lượng đối lập, mà đại điện là một chính đảng trong lòng xã hội hiện nay là yêu cầu bức thiết và tất yếu để giảm thiểu những tổn thất mà nhân dân phải gánh chịu trong quá trình thay đổi. Trên cơ sở nhận thức như vậy, tôi mạnh dạn làm đơn này, đề nghị và kính mong các ông, vì tương lai đất nước, vì lợi ích của dân tộc, cho phép tôi thành lập đảng Tự do—Dân chủ."

Lá đơn viết rất ngắn ngủi gửi chủ tịch nước và chủ tịch quốc hội, chưa hết một trang phôtô A4, chỉ là một lời đề nghị, xin phép, rất đàng hoàng, rất công khai. Chiểu theo pháp luật và Hiến pháp VN thì không có một mảy may nào kết thành tội phạm được. Điều 69 Hiến pháp CHXHCNVN ghi: “Công dân có quyền hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật.".

Ông Nguyễn Vũ Bình làm đơn xin thành lập đảng theo quyền của công dân đã được Hiến pháp ghi nhận, không vi phạm luật pháp. Còn cho hay không là quyền của Nhà nước. Không thấy điều khoản nào cấm người dân làm đơn xin thành lập hội, lập đảng. Xét về ý thức luật pháp, người dân được quyền làm mọi việc trừ những thứ luật ghi cấm. Nếu cho việc viết đơn xin thành lập đảng là một tội, thì Viện kiểm sát phải chỉ ra được điều cấm đoán ấy ghi trong bộ luật nào của các bộ luật hiện hành ở VN, khung hình phạt của nó là bao nhiêu. Nếu không chỉ ra được, xin toà bác bỏ.

2/ Ông Nguyễn Vũ Bình viết một số bài mang nội dung xấu. Tôi đã đọc tất cả các bài mà Viện kiểm sát cho là nội dung xấu. Có mấy bài như sau:

Xét nội dung toàn bộ những bài viết này, nó chỉ là nỗi khắc khoải, tâm tư của một người trí thức yêu nước, lo cho vận mệnh dân tộc, tiền đồ đất nước. Tất nhiên là nó có khác ý kiến với Đảng lãnh đạo. Mà có khác ý kiến thì mới cần trình bầy, mới cần phát biểu. Còn đồng ý cả rồi thì chả cần mẹ hát con khen hay làm gì. Xét về mặt luật pháp nó không phạm tội. Nó chỉ thực hiện quyền làm dân đã được ghi nhận trong Hiến pháp từ năm 1946, cho đến tận bản Hiến pháp sửa đổi lần thứ tư năm 1992 vẫn ghi nhận nó: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, có quyền được thông tin ...” (Điều 69 Hiến pháp CHXHCNVN) và điều 53 còn ghi rõ hơn: "Công dân có quyền tham gia quản lý Nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận các vấn đề chung của cả nước và địa phương, kiến nghị với cơ quan Nhà nước, biểu quyết khi Nhà nước trưng cần ý dân." (Điều 53 Hiến pháp CHXHCNVN).

Vậy thì những bài viết kể trên của thân chủ tôi không có yếu tố cấu thành tội phạm. Nó mang những quan điểm ý kiến khác nhau thì chỉ có thể dùng tranh cãi, bàn bạc, lý luận giải quyết với nhau. Đây là lĩnh vực tư tưởng phải giải quyết bằng biện pháp tư tưởng. Chứ không thể dùng luật hình sự bỏ tù nhau được. Nó không vi phạm luật pháp. Không có điều luật nào cấm công dân không được trình bày những suy nghĩ của công dân.

Trong những bài viết trên thì có bài "Bản điều trần về tình trạng nhân quyền tại Việt Nam" gửi Uỷ ban Nhân quyền Quốc hội Liên bang Hoa Kỳ, là bài đáng lưu ý hơn cả, đáng xem xét hơn cả, thì bản cáo trạng lại hình như bỏ lờ đi, không muốn nói rõ ra.

Tôi là người bảo vệ quyền lợi cho thân chủ Nguyễn Vũ Bình, tôi xin nói rõ để toà xem xét. Bài này là do bà Loretta Sanchez, hạ nghị sĩ Quốc hội Mỹ, người đã sang thăm nước ta cùng phái đoàn tổng thống Mỹ Clinton. Bà này hoạt động về nhân quyền, do đó đã yêu cầu thân chủ tôi viết tham luận về tình trạng quyền con người bị vi phạm ở Việt Nam. Ông Bình với quan niệm về quyền con người ghi trong Công ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết, với ý thức một công dân đấu tranh cho dân chủ từng ký vào một bản kiến nghị tập thể gần 20 người gồm lão thành cách mạng, cựu chiến binh, trí thức, văn nghệ sĩ ngày 6 tháng 7 năm 2002 gửi lãnh đạo Đảng và Nhà nước nêu lên nhiều vụ vi phạm nhân quyền ở ta. Bản điều trần gửi Quốc hội Mỹ chỉ là bản sao lại những điều đã nói trong bản kiến nghị tập thể.

Nếu cho việc làm này là có tội thì phải kết tội cả gần 20 người đã ký tên vào bản kiến nghị gửi lãnh đạo Đảng và Nhà nước. Và trước khi kết tội thì phải xem xét những điều phản ánh ấy có đúng hay không. Ví dụ như:

  1. Việc bắt cựu chiến binh Vũ Cao Quận ngay sau khi ông Nông Đức Mạnh nhậm chức tổng bí thư được 2 hôm. Có không ?
  2. Công an thành phố HCM chặn bắt thu giữ bản thảo của tướng quân Trần Độ ở ngay đường phố Sài Gòn ngày 12-7-2001. Có không ?
  3. Công an thành phố HN bắt lên xét hỏi các ông Phạm Quế Dương, Trần Khuê, Hoàng Minh Chính cùng gần 20 người khác bị sách nhiễu sau lá đơn xin thành lập Hội nhân dân VN chống tham nhũng, vào ngày 5-9-01 làm náo động cả Hà Nội. Có không ?
  4. Tổ chức đấu tố (như đấu địa chủ trong Cải cách ruộng đất) khắp các khối dân cư nơi cư trú của các ông Hoàng Minh Chính, Phạm Quế Dương, Nguyễn Thanh Giang, Lê Chí Quang ... suốt tháng 9 và tháng 10 năm 2001. Có không ?
  5. Cuối năm 2001, công an chặn đường bắt nhà thơ Bùi Minh Quốc trên đường về Đà Lạt, sau khi nhà thơ thực hiện một chuyến đi tìm hiểu về vấn đề biên giới Việt Trung. Nhà thơ bị quản chế 2 năm tại gia. Cùng cảnh tù tại gia còn có nhà xã hội học Trần Khuê và tiến sĩ sinh vật học Hà Sĩ Phu.
  6. Tháng 1-2002 thứ trưởng Bộ Văn hoá-Thông tin Phan Khắc Hải ký quyết định truy tìm và tiêu hủy một số sách của những người dân chủ.
  7. Bắt giam hàng loạt những trí thức trẻ với những lý do không xác đáng như: Lê Chí Quang, Nguyễn Khắc Toàn, Phạm Hồng Sơn.
  8. Cắt điện thoại gia đình các ông Hoàng Minh Chính, Phạm Quế Dương, Hoàng Tiến, Trần Khuê, Trần Dũng Tiến, Hà Sĩ Phu, Bùi Minh Quốc, Lê Chí Quang, Nguyễn Thanh Giang, Nguyễn Vũ Binh, Nguyễn Đan Quế ...
  9. Sách nhiễu và giam cầm hàng loạt tín đồ và các chức sắc tôn giáo ...

Nếu những việc phản ánh trên không đúng sự thực, thì mới có thể kết tội những người ký tên là vu khống, vi phạm luật pháp. Còn sự việc đúng như thế thì không thể kết tội họ được, chỉ có thể kết tội công an đã vi phạm quyền con người quá mức, để thế giới có cớ lên án chúng ta mà thôi.

Còn nếu kết tội thân chủ tôi cung cấp những tin tức trên cho Quốc hội Mỹ là phạm tội gián điệp, thì phải chứng minh được mấy việc sau, chiếu theo nội hàm của khái niệm gián điệp:

  1. Bà Loretta Sanchez có phải là gián điệp không ? Hoặc gải Quốc hội Mỹ có phải là một tổ chức gián điệp không ?
  2. Bà Loretta Sanchez hoặc Quốc hội Mỹ đã trả cho ông Bình bao nhiêu tiền ? Nhận tiền ở đâu ? Bao nhiêu lần ?
  3. Bà Loretta Sanchez hoặc Quốc hội Mỹ còn giao những việc gì nữa cho ông Bình ? Và ông Bình đã thực hiện như thế nào ?

Thiển nghĩ rằng, việc đến như thế thì phiền toái quá. Chúng ta không thể giải quyết nổi. Vì nó đụng chạm đến quan hệ ngoại giao, quan hệ thương mại, quan hệ quốc tế về quyền con người, việc gia nhập WTO, những ràng buộc giữa các nước đã tham gia Liên hiệp quốc ...vv...

Tốt hơn hết, tôi đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) không chấp nhận những bài viết khác quan điểm, khác ý kiến thành tội danh như Viện kiểm sát kết tội trong bản cáo trạng. Những bài viết ấy, bản thân nó không thể là tội phạm. Nếu cứ kết tội bừa, thì chỉ để người ta chê cười. Thế giới lâu nay người ta đã từng chê cười những vụ án về quan điểm, về tư tưởng, họ dùng cụm từ đăng báo để mỉa mai những vụ án này procès de tendance. Không có nước nào bây giờ còn dại dột giam cầm tù nhân chính trị, tù nhân tư tưởng. Ta không nên để mắc vào những điều xấu xa ấy, tạo cái cớ cho thế giới lên án chúng ta.

3/ Việc liên hệ với bọn phản động bên ngoài. Các vị lãnh đạo Đảng và Nhà nước ta thường nói bây giờ là hoà hợp dân tộc, xoá bỏ hận thù, xếp lại quá khứ, cùng nhau xây dựng đất nước tương lai, vậy thì đối với khối người Việt di tản ra nước ngoài ta không nên coi họ là thù địch nữa. Việc quan hệ với những người Việt di tản, thậm chí với cả Nguyễn Văn Thiệu hay Nguyễn Cao Kỳ cũng chỉ nên coi là việc bình thường. Việt kiều có thể về thăm đất nước, người quốc nội đi quốc ngoại thăm thú bà con họ hàng. Quan hệ trao đổi thư từ hay qua Email Internet, không có gì là phạm pháp.

Ông Nguyễn Vũ Bình có trao đổi Email với các ông Việt kiều: Nguyễn Gia Kiểng, Nguyễn Ngọc Đức, anh Dũng hay cô Hiền, như bản cáo trạng đã nêu (nhận 52 meo và gửi 34 meo) không thể coi là yếu tố cấu thành tội gián điệp được.

Thứ nhất, các ông bà Việt kiều ấy là người Việt Nam, chứ không phải là người nước ngoài. Nội hàm của tội gián điệp theo luật ghi là phải có yếu tố nước ngoài. Nước ngoài (Etrangers) nghĩa là nước Mỹ, nước Anh, Pháp, Đức, Nga. Nhật hay Trung quốc ... chứ không thể là mấy ông Việt kiều. Còn ta cho họ là phản động, đấy là cách gọi của ta. Nhưng dù cho họ có là phản động thì sự quan hệ với họ cũng không thể thành tội gián điệp.

Giả dụ như, thân chủ tôi ông Nguyễn Vũ Bình, có theo sự chỉ đạo của tên phản động Nguyễn Gia Kiểng ở nước ngoài, thành lập một tổ chức bí mật trong nước để lật đổ chế độ, thì, phát hiện ra, cứ theo tội lật đổ chính quyền mà trừng phạt. Chứ không thể kết tội gián điệp vào đây được. Ngôn ngữ luật pháp phải rạch ròi như vậy.

Muốn kết tội gián điệp trong trường hợp này, chí ít phải chứng minh được ông Nguyễn Gia Kiểng là gián điệp hoạt động cho một tổ chức gián điệp nước ngoài nào đó (phải cụ thể là Mỹ, Anh, Pháp hay Đức ...vv...), thì mới có thể gắn thân chủ tôi vào là đồng loã với tội gián điệp. Nhưng làm việc này không dễ, vì ông Nguyễn Gia Kiểng có thể kiện ra toà án quốc tế về tội vu khống.

Tốt hơn hết, nên theo một quan niệm cởi mở bây giờ, liên hệ với những người bên ngoài (kể cả phản động hay yêu nước) không nên coi là một cái tội. (Ta vẫn thường quan hệ với những kẻ thù trước đây đã từng sang cai trị áp bức bóc lột dân ta, có những tên nợ máu với dân ta, vậy mà ngày nay ta vẫn tay bắt mặt mừng nâng cốc ký kết việc làm này, hợp đồng nọ với họ đấy thôi).

Vì vậy, đề nghị HĐXX không chấp nhận căn cứ thứ ba của bản cáo trạng kết tội thân chủ tôi với tội danh gián điệp.

4/ Việc nhận tiền nước ngoài. Cũng theo lập luận trên, bây giờ bốn bể là nhà, hoà nhập toàn cầu, việc nhận tiền của nước ngoài không nên coi là một tội danh. Họ hàng cho nhau, bè bạn cho nhau, người nước ngoài giúp người trong nước, buôn bán trao đổi, đồng đôla chạy đi chạy lại, nên coi là chuyện bình thường tất yếu nữa, cần thiết nữa.

Không có điều luật nào cấm người Việt Nam nhận tiền của nước ngoài. Nếu Viện kiểm sát cho là một tội thì xin hãy chỉ ra tội danh ấy ở bộ luật nào ?

Nói nhận tiền nước ngoài là có tội, đấy là cách nói để hù doạ với người dân. Nếu có tội thì sao không dám kết tội ông cựu tổng bí thư Đỗ Mười nhận hẳn 1 triệu đôla tiền biếu của tư bản Hàn quốc, báo Nhân Dân đưa tin hẳn hoi, còn dư luận xì xầm khắp mọi nơi mọi chốn. Buồn cười là vụ án kết tội gián điệp bác sĩ Phạm Hồng Sơn chỉ nhận có 150 đôla của nước ngoài. Bèo bọt quá ! nghĩ nực cười chảy nước mắt. Chỉ có toà án làm theo lệnh trên, bất chấp luật pháp, kết tội bừa bãi người lương thiện, mới trở thành cái trò hề như vậy. Làm thành một vết nhơ cho ngành toà án Việt Nam.

Tôi đề nghị HĐXX vụ án này, hãy thượng tôn pháp luật, không chịu một sức ép nào dù ở trên hay ở dưới, xét xử theo đúng luật pháp, để gỡ lại danh dự cho ngành toà án Việt Nam.

Mong HĐXX bác bỏ căn cứ thứ tư của bản cáo trạng kết tội việc nhận tiền nước ngoài thành tội gián điệp. Nó phi lý, chứng tỏ việc coi thường luật pháp hết cỡ.

Kết luận:

Tóm lại những điều tôi bào chữa trên đây để đi đến một kết luận là: thân chủ tôi vô tội.

Ông Nguyễn Vũ Bình là một trí thức, phóng viên tạp chí Cộng Sản, một tạp chí lớn có lương bổng hậu so với cả nước. Nhưng vượt qua những lợi lộc cá nhân, với tấm lòng yêu nước nồng nàn cùng trách nhiệm của một trí thức trẻ trước vận mệnh dân tộc, ông đã nhìn ra những thiếu sót trong đường hướng hiện hành, lo lắng ưu tư, và ông đã dũng cảm trình bày thẳng thắn bộc trực những suy nghĩ của mình với những người lãnh đạo, chẳng lo tới thiệt hại bản thân, mong sao lãnh đạo cùng nhìn ra để đưa đất nước phát triển không thua kém năm châu bốn biển.

Trung ngôn nghịch nhĩ, lời nói thẳng khó lọt lỗ tai, nhưng những con người như ông Nguyễn Vũ Bình là những con người cần thiết cho đất nước lúc này. Những con người như ông cần được pháp luật bảo vệ và trân trọng.

Chiểu theo Hiến pháp nước CHXHCNVN và theo pháp luật hiện hành, tôi trân trọng đề nghị HĐXX, vì thượng tôn pháp luật, hãy xét xử theo hướng tha bổng, vì thân chủ tôi không có tội.

Kính mong HĐXX xem xét, cân nhắc, và phán quyết.

Hà Nội ngày 26 tháng 12 năm 2003

Bào chữa viên nhân dân
Nhà văn Hoàng Tiến.
Địa chỉ: Nhà A 11 Phòng 420
Thanh Xuân Bắc—Hà Nội

Đồng kính gửi:

----- O -----

VIỆT NAM VÀ CON ĐƯỜNG PHỤC HƯNG ĐẤT NƯỚC

Nguyễn Vũ Bình

Sau một thời gian tăng trưởng kinh tế ở mức cao (8-9%/năm), nền kinh tế Việt Nam đang trong thời kỳ suy giảm. Năm 1998 mức tăng trưởng đạt 5,8%, năm 1999 là 5%. Đầu tư nước ngoài vào Việt Nam năm 1998 chỉ bằng 1/3 của năm 1997 và năm 1999 bằng 1/3 năm 1998. Vấn đề quan trọng là xu hướng giảm của tăng trưởng kinh tế và đầu tư nước ngoài ngày càng rõ nét. Tình trạng tham nhũng trở thành quốc nạn tham nhũng đã được Đảng, Quốc hội, Chính phủ và nhân dân thừa nhận. Tệ nạn xã hội - nỗi đau lớn nhất của dân tộc - đang phát triển không gì ngăn cản nổị Gần đây, người ta khám phá ra vụ buôn bán, tiêu thụ ma tuý lớn nhất từ trước tới nay, vụ án được xét xử ngày 13-6 tại Nam Định.

Trước tình hình thực tế của đất nước, có hai cách nhìn nhận, lý giải và đánh giá. Theo quan điểm chính thống của Đảng và nhà nước thì rõ ràng những thành tựu mà nước ta đạt được trong thập kỷ vừa qua là vô cùng ngoạn mục. Tuy nhiên, mấy năm cuối thập kỷ, do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế - tiền tệ châu Á, mức tăng trưởng của nền kinh tế có phần giảm sút song vẫn ở mức cao nhất khu vực và châu Á. Quốc nạn tham nhũng thì Đảng và Chính phủ, Quốc hội cũng không bao giờ quên. Bài diễn văn nào, cuộc họp nào cũng nhắc tới, thậm chí những cuộc tiếp xúc ngắn ngủi giữa lãnh đạo Đảng với dân, tham nhũng cũng bị đưa ra bàn bạc, mổ xẻ. Tệ nạn xã hội đích thị là do kinh tế thị trường (mặt trái của kinh tế thị trường). Không còn phải nghi ngờ gì nữa, chúng ta chấp nhận kinh tế thị trường cũng phải chấp nhận mặt trái của nó và tệ nạn xã hội là đương nhiên. Vấn đề là giáo dục đạo đức và khắc phục mặt trái của kinh tế thị trường.

Một cách nhìn nhận khác, trái hẳn với cách nhìn nhận thông thường, chính thống. Cách nhìn nhận này thực ra đã được các nhà cách mạng lão thành, những trí thức tâm huyết với đất nước ở trong và ngoài nước bằng nhiều hình thức góp ý với Đảng và Nhà nước. Cũng là điều bình thường khi người đi sau tổng hợp và phát triển với một ý chí và quyết tâm cao trên cơ sở nhận thức của bản thân.

Đến thời điểm này, Tôi cho rằng Việt Nam đang đứng trước một cuộc tổng khủng hoảng lớn nhất của chế độ hiện hành. Có thể khái quát trạng thái hiện nay của tình hình đất nước là: Bế tắc về đường lối, đình trệ về kinh tế và dồn nén về xã hộị Sau đây sẽ phân tích từng vấn đề.

1- Bế tắc về đường lối

Vấn đề lớn đầu tiên là đường lối về chính trị. Với ý thức hệ Mác- Lênin làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động và phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, Đảng Cộng sản Việt Nam đang đưa đất nước vào ngõ cụt bởi những lý do: Thứ nhất, hệ tư tưởng Mác- Lênin khái quát thực tế lịch sử từ trước cho đến thế kỷ XIX, hiện nay chúng ta đang sống ở thế kỷ XXI, không thể lấy những kết luận của thế kỷ XIX làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động ở thế kỷ XXI được. Thứ hai, dù nói cách nào thì sự sụp đổ của CNXH ở Liên Xô và các nước Đông Âu đã chứng minh ý thức hệ tư tưởng Mác- Lênin không phù hợp với lịch sử và đã bị đào thảị Thứ ba, theo nhà toán học Phan Đình Diệu, khái niệm " Kinh tế thị trường theo định hướng XHCN" là một khái niệm mâu thuẫn. Chủ nghĩa xã hội, với tư cách là một thể chế xã hội (theo định nghĩa kinh điển), là một chế độ mà về mặt kinh tế phải xây dựng trên cơ sở công hữu hoá về tư liệu sản xuất, quản lý tập trung và kế hoạch hoá vv.. rõ ràng mâu thuẫn với kinh tế thị trường. Mâu thuẫn trong cơ sở lý luận sẽ dẫn tới những biện pháp nửa vời trong thực tiễn hành động. Đây là lý do quan trọng nhất dẫn tới bế tắc về đường lối phát triển kinh tế hiện naỵ Với quan điểm kinh tế Nhà nước (nòng cốt là doanh nghiệp nhà nước) giữ vai trò chủ đạo, nền kinh tế Việt Nam không thể phát triển được. Trên thế giới chưa có một nước nào mà doanh nghiệp nhà nước hoạt động có hiệu quả và thực tế đau đớn của Liên Xô và các nước Đông Âu cũng như những nước gọi là CNXH, trong đó có Việt Nam còn tồn tại chẳng phải đã là những minh chứng rõ như ban ngày hay saỏ Một vấn đề rất quan trọng nữa về đường lối, đó là đường lối hội nhập. Chúng ta đều biết rằng, sự phát triển của một nền kinh tế ngày nay không thể tách rời khỏi sự phát triển của nền kinh tế khu vực và thế giớị Để thu hút vốn, kỹ thuật và trình độ quản lý cho phát triển kinh tế thì hội nhập là yêu cầu tuyệt đối đối với bất cứ nền kinh tế nàọ Song hội nhập lại đòi hỏi các nền kinh tế phải đáp ứng đầy đủ những nguyên tắc của nền kinh tế thị trường. Và bất kỳ nền kinh tế nào đi ngược lại hoặc chưa bảo đảm về cơ bản các nguyên tắc thị trường đều bị tổn thương trong quá trình hội nhập. Cuộc khủng hoảng kinh tế - tiền tệ châu Á vừa qua đã chứng minh rất rõ luận điểm nàỵ Theo tôi, các nước vừa qua bị khủng hoảng do đã vi phạm hai nguyên tắc rất quan trọng của nền kinh tế thị trường, đó là: Thị trường phân bổ có hiệu quả các nguồn lực của nền kinh tế và tính minh bạch và trung thực của thông tin trong nền kinh tế thị trường. Như vậy, với nền kinh tế nước ta hiện nay, các nhà lãnh đạo đều cảm nhận được sự nguy hiểm của hội nhập và chính vì vậy đã dẫn tới sự nửa vời, bị động và bế tắc trong đường lối hội nhập.

2- Đình trệ về kinh tế

Báo cáo kinh tế của Viện Kinh tế học cuối năm 1999 đã đưa nhiều số liệu về việc tồn đọng một số sản phẩm cơ bản của nền kinh tế như: xi măng, sắt, thép, phân bón, đường,vv...cũng như tình hình thất nghiệp rất lớn trong các doanh nghiệp hiện naỵ Đó là một trong những biểu hiện đình trệ của nền kinh tế. Nhưng quan trọng hơn là đi vào tìm hiểu bản chất của nền kinh tế nước ta hiện naỵ Thú thực, là một người Việt Nam nhưng tôi không thể vui mừng được trước những cái gọi là thành tựu của công cuộc đổi mới như tăng trưởng kinh tế 8-9%, tỷ lệ đói nghèo giảm từ 33% xuống còn 17% theo số liệu chính thức. ở đây chưa bàn đến phương pháp thống kê (tính GDP) cũng như định nghĩa về hộ đói nghèo mà vấn đề là những gì đang diễn ra đằng sau những con số đó. Chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế có một khuyết điểm rất lớn là nó không chỉ cho người ta biết được khả năng thanh toán hay khả năng trả nợ của một nền kinh tế - và đây là điểm quan trọng nhất. Tôi hình dung nền kinh tế Việt Nam như một quỹ tín dụng nhân dân khổng lồ (dân gian gọi là chủ hụi) chưa bị vỡ nợ. Đặc điểm của những quỹ tín dụng này là khả năng che đậy thực lực tài chính bằng phương pháp vay của người sau trả cho người trước và nó chỉ bị vỡ tung khi bị phát hiện hoặc không vay được nữạ Theo số liệu công bố chính thức, tổng số nợ của nước ta là 11 tỉ USD, nhưng số nợ thực có thể là gấp rưỡi hoặc gấp đôi (xấp xỉ 20 tỉ USD), tức là số nợ gần tương đương hoặc bằng 2/3 tổng sản phẩm quốc nội của nước tạ (GDP của Việt Nam khoảng 30 tỉ USD nhưng có người nhận định chỉ vào khoảng 20 tỉ USD). Nhưng vấn đề quan trọng là một nền kinh tế không có hiệu quả (sẽ phân tích), với đường lối và phương thức phát triển như hiện nay thì khả năng trả nợ sẽ là con số không! Điều này lý giải tại sao tất cả những số liệu, thông tin về vấn đề này đều thuộc bí mật quốc giạ Xin lấy một ví dụ cụ thể về hệ thống ngân hàng Việt Nam. Theo số liệu của Báo cáo kinh tế của Viện Kinh tế học thì số nợ quá hạn của hệ thống ngân hàng thương mại nước ta là 7% trên tổng dư nợ, cộng với 7% khoanh nợ cho các doanh nghiệp nhà nước là 14% (theo các chuyên gia nước ngoài là 23-25%). Trong khi đó, bất kể ngân hàng nào trên thế giới, số nợ quá hạn trên tổng dư nợ là 5% thì ngân hàng đó đã phải phá sản! Như vậy hệ thống ngân hàng của nước ta có số nợ quá hạn cao gấp 3 đến 5 lần giới hạn cho phép mà vẫn tồn tại ung dung, vui vẻ. Điều mấu chốt là những thông tin này phải được giữ bí mật, nhất là đối với những người gửi tiền vào ngân hàng. Vấn đề đói nghèo cũng có kịch bản tương tự. Đằng sau những con số mỹ miều về thành tích xoá đói giảm nghèo là cuộc sống cùng cực của những người công nhân, nông dân, những người lao động. Bởi vì những con số chỉ phản ánh được mức tăng đơn thuần về lượng của thu nhập mà không biết tới một chu kỳ "tiêu dùng mới" của toàn xã hội trong những năm quạ Trong 10 năm (1990-1999) qua, chúng ta đã bước sang một chu kỳ tiêu dùng mới với những chi tiêu cho giáo dục, y tế, những khoản đóng góp mới, với chi tiêu cho những hủ tục ở nông thôn mới trỗi dậy và những khoản tiêu cực phí cho bất kỳ công việc nào, vv... Những con số tăng lên nhỏ nhoi về thu nhập liệu có lấp đầy những chi phí phát sinh trong chu kỳ tiêu dùng mới của nhưng hộ đói nghèỏ Có nên tự hào về những con số đó không khi mà những gia đình này phải có những khoản tiền khổng lồ đối với họ thì con họ mới học lên được trung học và đại học.

Tình trạng đình trệ về kinh tế được phân tích rất rõ trong Báo cáo kinh tế của Viện Kinh tế học. Nguyên nhân trực tiếp của việc tồn đọng những sản phẩm cơ bản là do chi phí sản xuất quá cao so với các nước trong khu vực và trên thế giớị Nguyên nhân về cơ cấu - mục tiêu là do: thứ nhất, phần lớn lượng vốn xã hội đầu tư vào khu vực doanh nghiệp nhà nước không có hiệu quả "Doanh nghiệp nhà nước (DNNN) sử dụng hơn 80% lượng vốn xã hội, giữ vai trò quan trọng trong sản xuất và đóng góp vào ngân sách nhà nước nhưng khả năng tích luỹ còn rất hạn chế. Trên thực tế, tổng số nợ của DNNN năm 1999 đã lên tới khoảng 200.000 tỉ đồng. Nếu tính đầy đủ những khoản như xoá nợ, khoanh nợ không phải thanh toán, bao cấp lãi suất,vv... thì các DNNN này chẳng những không tạo ra được tích luỹ mà còn khó tái tạo được nguồn vốn ban đầụ Dù muốn lập luận như thế nào chăng nữa hơn 80% lượng vốn xã hội sử dụng theo phương cách trên vẫn là nguyên nhân của tình trạng giảm sút tăng trưởng và kìm hãm cầu" -- (Tạp chí Cộng sản, số 2, tháng 1-2000, trang 32); Thứ hai, khu vực kinh tế tư nhân không phát triển được. Chúng ta đều biết, kinh tế tư nhân là động lực phát triển của tất cả các nền kinh tế thị trường phát triển trên thế giớị Khu vực kinh tế này không phát triển được thì nền kinh tế cũng không thể phát triển.

Có ba nguyên nhân quan trọng làm cho khu vực kinh tế tư nhân không phát triển. Một là, không thừa nhận sở hữu tư nhân dẫn tới việc tư nhân kinh doanh không được bảo đảm và bảo vệ bằng pháp luật. Hai là, kinh tế thị trường chưa chín muồi (chưa tạo lập đầy đủ và đồng bộ các thị trường), chưa có hệ thống pháp luật cho kinh tế thị trường phát triển, dư luận xã hội đối với kinh tế tư nhân còn nhiều nặng nề, định kiến. Ba là, sự méo mó của hoạt động sản xuất kinh doanh do việc ưu tiên quá mức cho các DNNN.

Với hai nguyên nhân cơ cấu-mục tiêu nêu trên, nền kinh tế nói chung không có hiệu quả. Kết hợp với việc sụt giảm đầu tư nước ngoài và đường lối hội nhập bế tắc, sự đình trệ của nền kinh tế là một tất yếụ

3- Dồn nén về xã hội

Đối với mỗi một nhà phân tích có lương tâm, vấn đề xã hội của đất nước hiện nay là nỗi đau lớn nhất bởi tính chất nghiêm trọng và khả năng khôi phục cực kỳ khó khăn, lâu dài của nó. Có thể nói, những nền tảng cơ bản của xã hội Việt Nam đã bị phá huỷ hoàn toàn. Điều này thể hiện trên những phương diện sau:

  • Tính trung thực xã hội đã bị phá huỷ hoàn toàn. Tính trung thực xã hội là nền tảng quan trọng nhất để một xã hội phát triển lành mạnh. Song, chúng ta đều biết rằng, qua thời gian tính trung thực xã hội đã biến mất. Trước hết, sự không trung thực bắt nguồn từ hệ thống chính trị, thẩm thấu vào hệ thống quản lý và lan toả ra toàn xã hộị Một đặc trưng của xã hội hiện nay là không một ai nói thật và rất sợ sự thật. Không phải ngẫu nhiên mà phương châm hành động của Đại hội VI là nói đúng sự thật, nhìn thẳng vào sự thật và đánh giá đúng sự thật.

  • Đạo đức xã hội đã bị phá huỷ nghiêm trọng. Những quan hệ xã hội, trong đó quan hệ con người với con người là cơ bản, và quan hệ tình cảm hợp thành nền tảng đạo đức xã hội đều bị phá hủy nghiêm trọng bởi sự ra đời và lên ngôi của một thứ quan hệ "đồng chí". Thực ra quan hệ "đồng chí" không có nội dung xã hội và không thể tồn tại, song chính vì vậy mà nó đã tồn tại bằng một sự lên gân và tiêu diệt các mối quan hệ khác. Không có gì ngạc nhiên khi ngày nay người ta thường gọi những người mà mình ghét và khó chịu là "đồng chí". Trải qua một thời gian dài, khi mà quan hệ đồng chí không còn nữa thì cũng là lúc mà những quan hệ khác đã bị phá huỷ hoàn toàn.

  • Những giá trị xã hội và thước đo giá trị xã hội đã bị đảo lộn. Bằng sự can thiệp sâu rộng của chính trị vào tất cả các lĩnh vực và trên mọi phương diện, đến nay những giá trị xã hội và thước đo giá trị xã hội đã bị đảo lộn hoàn toàn. Những gì là đúng, là sai, là hay, là dở không thể nào thống nhất và phân biệt được. Con người nào là tài, là giỏi, là dốt, là cơ hội, vv... không có thước đo xã hội làm chuẩn mục đánh giá. Đây đúng là bi kịch của xã hội Việt Nam bởi vì chúng ta không thể nào huy động và sử dụng được những con người tài giỏi, trí tuệ nhất của đất nước để thoát ra khỏi tình trạng hiện nay.

  • Con người bị tha hóạ Biểu hiện cuối cùng và cao nhất về sự xuống cấp xã hội là sự tha hoá của con ngườị Người ta không được phép nói ra những điều mình suy nghĩ, hành động theo những gì người ta cho là đúng, tức là mình không phải là mình. Có người nói rằng, con người ngày nay là con người nhị nhân cách song theo tôi thì những người nhị nhân cách đó là những người không có nhân cách. Làm sao mà có nhân cách được trong khi tất cả các phát biểu chính thức, những cuộc họp, hội thảo anh nghĩ một đằng lại nói một nẻo.

    Lý giải nguyên nhân của tất cả những vấn đề xã hội nêu trên là một điều hết sức khó khăn. Song cũng có một vài điều để chúng ta suy nghĩ về nguyên nhân. Tuyệt đối hoá mục đích trong các hoạt động thực tiễn, tức là phải đạt được mục đích bằng mọi biện pháp, mọi giá, không cần xem xét tới hậu quả - có thể là nguyên nhân khởi nguồn, đầu tiên. Tuyệt đối hoá quyết định cấp trên - mệnh lệnh, một nguyên tắc của chiến tranh được đưa vào quản lý xã hộị Và cuối cùng, kết hợp với ảo tưởng về một xã hội dựa trên nền tảng công hữu về tư liệu sản xuất.

    Trên nền của một xã hội như vậy, số lượng ngày càng tăng của tội phạm và tính chất man rợ và nghiêm trọng của tội ác không phải là điều gây quá nhiều ngạc nhiên. Vấn đề là hiện nay đang có sự dồn nén đặc biệt về xã hội được tạo ra bởi những khó khăn của nông dân, công nhân, những ức chế của giới trí thức, những hoài nghi và lo lắng của cán bộ lão thành, cán bộ hưu trí. Có ba nguyên nhân dẫn tới những dồn nén xã hội.

    * Một là, Điều kiện sống, sinh hoạt khổ cực của nông dân và công nhân. Điều này không cần dẫn chứng và phân tích nhiều bởi vì đối với công nhân, tình trạng không có việc làm và thu nhập thấp là phổ biến và rõ như ban ngàỵ Đối với nông dân, sự cùng cực và dồn nén đã bùng nổ ở Thái Bình mà nguyên nhân cơ bản của nó đã được phân tích hoàn hảo trong bài "Từ thực tế một xã, suy ngẫm về sự đóng góp của nông dân" của Phó giáo sư, Tiến sĩ Lê Trọng đăng trên Tạp chí cộng sản số 16, tháng 8-1997. Trong bài báo có hai điều cần lưu ý, đó là sự dư thừa của lực lượng lao động từ 50-60% ở vùng đồng bằng sông Hồng. Điều này phản ánh sự bế tắc trong việc tạo lập môi trường làm ăn thuận lợi cho nông dân. Thứ hai là mức đóng góp rất lớn của nông dân từ 13-21 khoản chiếm tới trên 70% thu nhập, dẫn tới thu nhập thực tế của nông dân ở mức cực kỳ khốn khổ: 28.400 đồng/người/tháng của lao động thuần nông và 40.000 đồng/người/tháng cho người có thêm thu nhập phụ (điều này phản ánh chính sách hà khắc đối với nông dân). Với mức thu nhập thấp, cộng với những tiêu cực phát sinh ở địa phương (cán bộ tham ô, tham nhũng, hách dịch ...) những người nông dân Thái Bình nổi dậy đã thực sự cảnh báo nguy cơ tổng khủng hoảng của toàn xã hội.

    * Hai là, Bất công xã hội do sự phân hoá giàu - nghèo, giữa nông thôn và thành thị đang diễn ra ngày càng sâu sắc. Trong khi những người nông dân ở nông thôn, những người công nhân đang vật lộn với cuộc sống khổ cực thì lại có một tầng lớp mới (tuyệt đại bộ phận là những kẻ có chức, có quyền nằm trong bộ máy Nhà nước, Đảng) giàu nứt đố đổ vách, ăn tiêu xa xỉ cả đời không hết củạ Trong khi hàng tiêu dùng bão hoà ở thành thị thì người nông dân ở nông thôn vẫn rách rưới, thiếu thốn và không thể nào mua nổị Pháp luật chỉ nghiêm minh đối với những người thấp cổ bé họng và nghèo khổ nhưng lại né tránh những kẻ có quyền và có tiền.

    * Ba là, Cảm nhận về sự bế tắc của tương laị Đối với người nông dân và công nhân, người ta không nhìn thấy một tương lai khả quan nào về việc làm cũng như cải thiện thu nhập của họ. Giới trí thức và những người có tâm huyết với đất nước cũng không nhìn thấy một tia sáng nào dưới đường hầm tăm tối của đường lối phát triển đất nước hiện naỵ Việc không nhìn thấy lối thoát đã góp phần tạo ra sự thụ động xã hội và cuối cùng là sự dồn nén xã hội.

    Trên đây là những khái quát và phân tích về tình hình đất nước. Song tất cả thực trạng này mới chỉ là tiền đề cho sự thay đổi có tính chất cách mạng của xã hội Việt Nam. Nếu dựa vào kinh nghiệm rút ra từ những nước thay đổi chế độ trong vòng 15 năm trở lại đây, chúng ta không nhìn thấy tương lai của sự thay đổị ở Việt Nam, sự thay đổi chế độ bắt nguồn từ sự thay đổi đường lối chính trị do những người lãnh đạo cao nhất khởi xướng bị loại trừ hoàn toàn. Mặt khác, sự sụp đổ về kinh tế dẫn tới động loạn xã hội và thay đổi về chính trị (như Anbani và Indonexia) rất khó xảy ra bởi khả năng can thiệp và tinh thần cảnh giác cao của Nhà nước trước những biến động kinh tế. Vậy thì phải chăng là sự gia tăng của ba yếu tố khó khăn kinh tế, dồn nén xã hội, sự phân hoá của tầng lớp lãnh đạo cùng với sự xuất hiện của lực lượng đối lập sẽ là câu trả lời về sự thay đổi của đất nước.

    Đứng trước tình hình hiện nay, vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam là gì? Liệu Đảng Cộng sản có khả năng tự thay đổi mình và xoay chuyển được tình thế để vẫn giữ được vị trí lãnh đạo đất nước trong tương lai không ? Câu trả lời là không và có

    - Không: Tất cả sự lựa chọn và thay đổi khó khăn nhất của ĐCS tập trung vào hai điểm mấu chốt là Doanh nghiệp Nhà nước và chống tham nhũng. Nếu từ bỏ được quan điểm DNNN giữ vai trò chủ đạo, đồng nghĩa với việc phát triển kinh tế tư nhân, tạo động lực mới cho phát triển kinh tế của đất nước và chống được tham nhũng, đồng nghĩa với việc làm trong sạch Đảng và lấy lại được uy tín trước nhân dân thì ĐCS vẫn ung dung một mình lãnh đạo đất nước tiến vào thế kỷ XXỊ Nhưng than ôi! điều đó nằm ngoài khả năng hiện thực. Bởi vì loại bỏ DNNN cũng chính là từ bỏ lợi ích sống còn của tầng lớp lãnh đạo, lợi ích được bao phủ bởi vẻ đẹp huyền ảo (không ai hiểu được) của định hướng XHCN, của con đường đi lên CNXH hiện naỵ Còn chống tham nhũng ử tham nhũng ở Việt Nam là phương thức tự tồn tại của tất cả những người có điều kiện tham nhũng do mức lương khốn khổ cộng với tình trạng mua quan, bán tước nở rộ hiện naỵ Liệu ĐCS có thể chống được tham nhũng không ?!?

    - Có: Trước khi trả lời câu hỏi, cần phải có sự thống nhất về nhận thức. Nếu cho rằng tình hình đất nước hiện nay chỉ là những khó khăn tạm thời, không liên quan gì tới bản chất chế độ, thì không có gì phải bàn ở đâỵ Song nếu ĐCS nhận thức được nguy cơ thực sự của tình hình đất nước, khả năng thay đổi chế độ xã hội trong tương lai gần là có thực và không tránh được, thì vấn đề là Đảng phải làm gì để tự thay đổi và giữ được khả năng lãnh đạo (tất nhiên là không phải độc quyền lãnh đạo nữa) trong điều kiện ổn định của xã hộị Trong tình hình như vậy, ĐCS phải có một quyết tâm và một sự hy sinh cực kỳ to lớn nhưng cần thiết. Đó là ĐCS cần tự đặt mình vào thử thách sống còn trước khi bị xã hội làm điều đó. Và tôi tin rằng nếu ĐCS thực sự vì dân, vì nước, thực sự muốn lấy lại lòng tin của nhân dân để tiếp tục lãnh đạo đất nước thì quyết định duy nhất đúng hiện nay là từ bỏ độc quyền lãnh đạo, đồng ý thực hiện đa nguyên tư tưởng, đa đảng đối lập. Tôi xin phân tích thêm ý nghĩa của quyết định này.

    Nếu quyết định này (đồng ý thực hiện đa nguyên, đa đảng) chỉ là giải pháp để giữ vị trí lãnh đạo của ĐCS Việt Nam trong giai đoạn nhất định, thì đối với lịch sử của đất nước, nó lại là một quyết định, một chiến công vĩ đại nhất từ trước tới naỵ Nhìn lại toàn bộ lịch sử nước ta, truyền thống đấu tranh giải phóng dân tộc, truyền thống chống ngoại xâm vô cùng oanh liệt nhưng nhân dân chưa bao giờ được tự do, đất nước chưa một ngày có dân chủ. Hiện nay đất nước đang ở thời điểm quyết định cho bước chuyển biến lớn nhất của lịch sử, và lịch sử đang trao trọng trách cho tất cả chúng tạ Chúng ta, trước hết là ĐCS, cần phải nắm bắt và khai thác được thời cơ có một không hai này để mở ra cho toàn xã hội một chân trời mới của sự phát triển. Tôi tin tưởng tuyệt đối và mãnh liệt rằng, dù có bất kỳ trở ngại nào, dù ý muốn chủ quan của bất kỳ cá nhân nào, lực lượng nào cản trở, dân tộc Việt Nam vẫn đi tới đích của lịch sử : Tự do của cá nhân và Dân chủ cho toàn xã hội.

    Là một người dân Việt, với nhận thức về tình hình đất nước và xu thế không thể đảo ngược, Tôi chỉ có một mong muốn duy nhất là làm sao góp phần giảm thiểu tối đa những tổn thất mà nhân dân phải gánh chịu, nảy sinh từ bước chuyển biến đau đớn nhưng đầy vinh quang sắp tớị Lý do cũng rất đơn giản, một thay đổi lớn của lịch sử nếu không có sự chuẩn bị về tinh thần của nhân dân sẽ rơi vào hỗn loạn, dẫn tới hậu quả khôn lường cho xã hộị Chính vì vậy, cần có một lực lượng đối lập ngay trong lòng xã hội hiện nay để một mặt, thúc đẩy tất cả các yếu tố sẵn có đi tới chín muồi và mặt khác, cùng với thời gian và sự thay đổi, tạo ra nền tảng vững chắc cho một cơ cấu dân chủ trong tương lai (tránh tình trạng như nước Nga, khi thay đổi chế độ không có một chính đảng thực sự thay thế dẫn tới việc kéo dài thời gian xây dựng thiết chế dân chủ).

    Trên tinh thần đó, Tôi đã làm đơn (có gửi kèm) xin thành lập đảng Tự do - Dân chủ. Xin trình bày một số nét sơ lược về đảng Tự do - Dân chủ cũng như suy nghĩ của bản thân về con đường phát triển đất nước.

    Đảng Tự do - Dân chủ có mục đích tự thân là đấu tranh cho Tự do cá nhân và Dân chủ xã hộị Trong bất kỳ thời điểm nào, hoàn cảnh nào, nếu Đảng không còn đấu tranh cho Tự do và Dân chủ, thì Đảng sẽ không còn là đảng Tự do - Dân chủ. Mục tiêu cơ bản và lâu dài của đảng Tự do - Dân chủ là xây dựng một xã hội : Nhân dân tự do - giàu có, Quốc gia hùng mạnh, Xã hội dân chủ - công bằng - văn minh.

    Để thực hiện được mục tiêu cao đẹp trên, cần xây dựng được tiền đề, nội dung và điều kiện cho sự phát triển đất nước. Đó là : Dân chủ hoá xã hội, Xây dựng nền kinh tế thị trường hiện đại và phát triển, Quốc tế hoá mọi hoạt động, mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.

    a/ Dân chủ hoá xã hộị Nói tới dân chủ hoá xã hội là phải tôn trọng những nguyên tắc chung của dân chủ, tức là phải thừa nhận những quyền cơ bản của con người, quyền công dân mà bất kỳ chế độ dân chủ nào cũng phải thừa nhận. Đó là quyền được sống và mưu cầu hạnh phúc, quyền được tự do ứng cử và bầu cử. Mặt khác, cần xây dựng hệ thống luật pháp làm nền tảng cơ bản cho chế độ chính trị dân chủ. Một luật pháp cần bảo đảm được những quyền con người và quyền công dân cơ bản, bảo đảm được sự phát triển và thay đổi bằng tiến hoá trong ổn định và quan trọng nhất là tạo ra khả năng lựa chọn cái tốt nhất cho đất nước. Điều cần lưu ý là xây dựng chế độ dân chủ phải là một quá trình liên tục, tự điều chỉnh, tự bổ sung và hoàn thiện. Cần huy động được sự cống hiến của mọi người, không loại trừ người nào trong quá trình thực hiện dân chủ.

    b/ Xây dựng nền kinh tế thị trường hiện đại và phát triển. Trong nền kinh tế thị trường thì quyền tư hữu tài sản là nền tảng phát triển, quyền sở hữu trí tuệ là động lực phát triển. Cần phải tuyệt đối bảo đảm và bảo vệ hai quyền này bằng luật pháp. Đồng thời tuân thủ nguyên tắc số một của kinh tế thị trường là: thị trường phân bổ có hiệu quả các nguồn lực. Nền kinh tế hiện đại gắn liền với xã hội thông tin, kinh tế tri thức và toàn cầu hoá. Với tiềm năng trí tuệ và khả năng sáng tạo của con người Việt Nam, chúng ta hy vọng một sự bùng nổ khi mỗi một cá nhân được tự do phát triển.

    c/ Quốc tế hoá các hoạt động trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hộị Đây vừa là yêu cầu, vừa là điều kiện để phát triển của tất cả các quốc gia trên thế giớị Xét trên góc độ hội nhập, đó là việc tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại nhằm phát huy văn hoá dân tộc lên tầm cao mớị Xét trên giác độ toàn cầu hoá, đó là thực hiện sự luân chuyển tự do của các yếu tố: nhân lực, thông tin, vốn, kỹ thuật. Trong điều kiện hiện nay, đẩy mạnh quốc tế hoá các hoạt động trên mọi lĩnh vực chính là điều kiện để thực hiện dân chủ hoá xã hội và xây dựng nền kinh tế thị trường hiện đại.

    * Bài viết này tập hợp tất cả trí tuệ và tâm huyết của bản thân tôị Với tâm niệm rằng, cần phải có một đảng chân chính và trung thực ngay từ buổi đầu thành lập, bằng phương thức đấu tranh công khai và hoà bình cho Tự do và Dân chủ ở Việt Nam. Tôi biết rằng, có thể tôi sẽ phải hy sinh nhưng vẫn tin tưởng tuyệt đối là : Lịch sử sẽ sang trang, nhân dân Việt Nam nhất định sẽ được hưởng Tự do và Dân chủ trong một tương lai không xa nữạ Và trên nền của Tự do và Dân chủ, nhân dân Việt Nam sẽ làm cho cả thế giới phải kinh ngạc về dân tộc mình, đất nước mình không kém những gì họ đã làm trong lịch sử ./.

    Nguyễn Vũ Bình

    ----- O -----

    Thư của Bùi thị Kim Ngân gửi Dân biểu Loreta Sanchez

    Hà nội, ngày 30 tháng 11 năm 2003

    Kính gửi : Bà Loreta Sanchez.

    Trước tiên tôi xin gửi lời thăm hỏi sức khoẻ của bà cũng như toàn thể gia quyến của bà.

    Tôi xin tự giới thiệu, tôi là : Bùi thị Kim Ngân – sinh năm 1968.

    Gia đình tôi hiện đang trú tại số nhà 26 tổ 67 B – P .Vĩnh Tuy- Quận Hai Bà Trưng – Thành phố Hà nội – Việt Nam.

    Tôi đang làm kế toán cho một công ty TNHH.

    Chồng tôi là Nguyễn Vũ Bình – sinh năm 1968, tốt nghiệp khoa Kinh tế chính trị của trường Đại học Quốc gia Hà nội năm 1990. Chồng tôi – anh Nguyễn Vũ Bình – đã làm biên tập viên Ban kinh tế của Tạp chí Cộng Sản – Cơ quan lý luận và chính trị của Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam – từ năm 1992 đến cuối năm 2000.

    Ngày 2 tháng 9 năm 2000, với nhận định đất nước còn quá nghèo và có khả năng đi vào một cuộc khủng hoảng toàn diện. Chồng tôi đã gửi cho các cấp lãnh đạo nhà nước Việt Nam lá đơn xin thành lập Đảng tự do dân chủ. Mục tiêu nhằm góp phần phục hưng đất nước, kèm theo một bài viết về chương trình xây dựng đất nước. Đồng thời chồng tôi cũng nộp luôn đơn xin thôi việc tới lãnh đạo Tạp chí Cộng sản vì hiểu đơn xin thành lập Đảng tự do dân chủ của mình trái với tôn chỉ và mục đích của tờ Tạp chí. Ngay sau đó Cơ quan an ninh liên tục gọi chồng tôi lên thẩm vấn suốt hơn một tuần lễ. Thật bất ngờ ban lãnh đạo Tạp chí không để chồng tôi thôi việc tự nguyện mà lại ra kỷ luật buộc chồng tôi thôi việc và trong lý lịch lại ghi: chồng tôi có đánh giá sai lệch về tình hình đất nước và không tin vào sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, hòng ngăn chặn con đường đi xin việc của chồng tôi ở các cơ quan khác.

    Trước sự việc đó, với tâm lý một người phụ nữ như tôi chỉ muốn cuộc sống gia đình yên ổn, vợ chồng có việc để có thu nhập cùng nhau nuôi dạy các con nên tôi rất hoảng sợ nài nỉ chồng tôi đừng làm các việc đó nữa. Chồng tôi nói với tôi rằng “Nếu em ngăn cản anh không làm các việc đó thì thà rằng em bắt anh phải chết còn hơn. Đấy là tâm huyết của anh, anh làm các việc đó không phải mang lại quyền lợi cho bản thân anh, mà vì lợi ích của đất nước và của mọi người”. Chồng tôi còn khẳng định và động viên tôi rằng: Anh và gia đình tôi sẽ không sao cả vì anh hoàn toàn chấp hành đúng pháp luật của nhà nước.

    Nhưng thưa bà !

    Ngày 19 tháng 7 năm 2002 chồng tôi nhận được lời mời của bà. Chồng tôi đã viết một bài có tựa đề “Bản điều trần về tình trạng nhân quyền ở Việt nam” rồi gửi cho Hạ Nghị Viện Hoa kỳ vào 7h sáng ngày 20 tháng 7 năm 2002. Thì đến 8h sáng hôm đó Công an Việt nam ập đến nơi chồng tôi làm việc, khám xét máy tính, tịch thu một số giấy tờ của chồng tôi và bắt chồng tôi đưa về Cơ Quan An ninh Thành phố Hà nội – tại 87 Trần Hưng Đạo. 19h tối cùng ngày chồng tôi được đưa về nhà cùng một số ông công an. Họ khám xét chỗ ở của gia đình tôi và lấy đi một số giấy tờ, sách báo v.v... Những thứ đó chồng tôi để công khai trên bàn làm việc của chồng tôi. Chồng là người đàng hoàng, anh không bao giờ làm việc gì sai trái, lén lút.

    Sau một tuần chồng tôi bị áp giải từ sáng đến tối để chất vấn tại phòng điều tra của Cơ quan An ninh thành phố Hà nội và sau hơn hai tháng họ đặt một trạm gác cách nhà tôi 20m canh phòng mọi sinh hoạt đi lại cũng như ngăn cản mọi mối quan hệ của gia đình tôi, thì đến ngày 25 tháng 9 năm 2002 chồng tôi đã bị Cơ quan An ninh Thành phố Hà nội bắt đem đi cùng một số giấy tờ mà họ cho đó là tài liệu. Chồng tôi bị bắt đem đi trước sự ngơ ngác của 3 mẹ con tôi. Lúc chồng tôi bị bắt, con gái lớn tôi mới chưa đầy 4 tuổi, cháu ngây thơ chưa hiểu điều gì đã xẩy ra với bố mình, cháu cứ tưởng bố cháu được các chú Công an mời đi uống cà phê. Vì một số ông Công An nói với cháu như thế. Con gái bé tôi lúc đó chưa đầy chín tháng tuổi. Trước khi bị bắt đưa ra khỏi nhà, chồng tôi bế cháu và hôn cháu để tạm biệt nhưng cháu ngây ngô chẳng biết gì cả.

    Thưa bà !

    Hai vợ chồng tôi sống xa gia đình. Chồng tôi bị bắt khiến gia đình tôi lâm vào cảnh sống khó khăn con vắng cha, vợ thiếu chồng. Mọi vấn đề từ nuôi dậy con cái đến lo toan kinh kế để đảm bảo cuộc sống hàng ngày cho 2 con và mẹ tôi lên trông cháu cũng như hàng tuần đi gửi đồ thăm nom cho chồng đều trông vào mình tôi.

    Kể từ ngày chồng tôi bị bắt đem đi đến nay đã hơn 14 tháng trời ròng rã. 3 mẹ con tôi chưa hề một lần được thấy mặt anh. Con gái lớn của tôi luôn hỏi “Sao bố đi làm lâu thế ? Mẹ gọi điện cho bố về với con nhé, con nhớ bố lắm !”. Cháu luôn tin rằng tết năm nay bố sẽ về ăn tết với cháu. Con gái thứ hai của tôi thì đến giờ không còn biết bố cháu là ai nữa rồi !. Cháu cầm ảnh của chồng tôi xem và hỏi “Mẹ ơi ! chú nào đây”. Thời gian bố các cháu bị bắt đã quá lâu đối với 3 mẹ con tôi. Tôi thấy các con tôi thật là đáng thương, đáng lý ra ở độ tuổi của chúng phải được hưởng đầy đủ sự yêu thương chăm sóc của bố chúng. Chồng tôi là người hết mực chiều con. Cứ mỗi lần thấy các con tôi thèm muốn được trèo vào lòng bố như trẻ con hàng xóm là tim tôi lại quặn đau. Tôi thấy đau và bất lực vì biết chồng tôi đang bị oan ức mà không biết làm cách nào để đòi lại sự công bằng cho chồng tôi để anh sớm trở về cùng vợ con.

    Nhiều đêm tôi luôn mơ thấy chồng tôi vẫn ở bên cạnh 3 mẹ con tôi, vui đùa với các con tôi. Đến khi tỉnh giấc thì mới biết đó chỉ là giấc mơ thì nước mắt lại trào ra và thức luôn đến sáng. Rồi những lúc con ốm đau chỉ có một thân một mình chăm sóc các con, đưa các con đi viện, tôi thấy tủi thân vô cùng. Nhiều khi tôi đưa các con đi chỉ để các cháu đỡ thiệt thòi, nhìn thấy gia đình khác có đầy đủ vợ chồng, con cái. Các con tôi thấy các bạn được bố kiệu trên vai cứ đòi tôi gọi bố về để kiệu chúng. Tôi chỉ biết ôm các con vào lòng mà khóc. Dù tôi có yêu thương con tôi bao nhiêu thì vẫn không thể thay thế vai trò của bố các cháu.

    Với nghĩa vụ người vợ, tôi đã gửi đơn rất nhiều lần cho các cơ quan chức năng xin phép cho 3 mẹ con tôi được gặp chồng tôi, để các con tôi và chồng tôi được thấy mặt nhau. Tôi cũng muốn biết về tình hình sức khoẻ của chồng tôi hiện nay ra sao. Tôi rất lo lắng cho tình hình sức khoẻ của chồng tôi vì tôi được biết chế độ sinh hoạt trong trại giam rất thiếu thốn, tôi đã nhiều lần không cầm được nước mắt khi đọc thư anh viết. Nhưng nhiều tháng qua cơ quan an ninh vẫn không cho mẹ con tôi được gặp. Mặc dù chồng tôi chỉ bị giam cách nơi tôi làm việc chưa đầy 6 km.

    Khi được tin chồng tôi sắp bị đưa ra xử, tôi lo lắng bổ đi các nơi xin phép được gặp chồng tôi để bàn về việc mời luật sư cho anh. Toà án, Viện kiểm soát, Cơ quan an ninh tìm mọi cách không cho tôi gặp. Họ chỉ nói cho tôi biết chồng tôi không đồng ý mời luật sư. Theo tôi nghĩ, có lẽ chồng tôi thương tôi một nách nuôi 2 con nhỏ, phải lo toan nhiều việc sẽ khó khăn về tài chính, sợ không có tiền để mời luật sư vì thế anh đã từ chối việc mời luật sư.

    Vì họ không cho tôi gặp chồng tôi, nên anh không biết rằng dù khó khăn tôi vẫn dành dụm được một số tiền và đã chính thức ký kết mời 3 luật sư để biện hộ cho chồng mình.

    Công an luôn nhắc nhở tôi không được nói chồng tôi bị bắt và giam giữ tại đâu cũng như tình hình sức khoẻ của anh ấy. Không nên quan hệ với bạn bè của chồng tôi nhất là những gia đình có cùng hoàn cảnh như gia đình tôi. Không được gửi đơn lên các cấp lãnh đạo nhà nước Việt nam mà chỉ được gửi đơn đến Cơ quan an ninh.

    Tôi không hiểu vì sao trong khi Đảng Cộng sản Việt nam và chính phủ của đất nước tôi luôn nêu cao vấn đề cải cách tư pháp, đảm bảo quyền bào chữa, đảm bảo quyền công dân mà cơ quan An ninh thành phố Hà nội lại tuỳ tiện làm trái pháp luật như vậy ?

    Bà cũng là một người vợ, ngưòi mẹ. Tôi tin rằng bà dễ đồng cảm với tôi trong hoàn cảnh hiện nay.

    Thưa bà !

    Cho phép tôi được hỏi : Trước khi bà có ý định mời chồng tôi tham dự vào hội thảo bàn về nhân quyền, liệu bà có biết rõ về đất nước Việt Nam cũng như cuộc sống của người dân Việt nam chúng tôi trong thời đại hiện nay ra sao ? bà có suy nghĩ gì khi chồng tôi đáp lại lời mời của bà bằng bài viết "Bản điều trần về tình trạng nhân quyền ở Việt nam" thì chồng tôi đã bị bắt và bị quy vào tội gián điệp.

    Thưa bà !

    Chắc bà không thể hình dung nổi sự lo lắng và hoảng sợ khi tôi được tin chồng tôi bị quy tội gián điệp. Theo điều 80 của bộ luật hình sự nhà nước CHXHCN Việt Nam – tội gián điệp là một trong các tội nặng nhất ở đất nước tôi, khung hình phạt từ 12 năm đến tử hình. Gia đình tôi sẽ bị mọi người phỉ nhổ và xa lánh. Lúc đó 3 mẹ con tôi biết sống ra sao ?

    Bà đã trực tiếp đọc bài viết đó của chồng tôi chưa ?. Tất cả những điều chồng tôi viết đó là sự thật đã và đang xẩy ra trên đất nước chúng tôi. Những sự việc đó đã được nhiều công dân Việt nam làm đơn cùng ký tên kiến nghị với cấp lãnh đạo của Việt Nam. Chồng tôi chỉ là người liệt kê lại sự việc đó vào bản điều trần mà thôi. Mục đích của chồng tôi muốn làm một việc gì đó để giúp cho nhân loại đâu cũng có cuộc sống tự do, dân chủ.

    Thưa bà !

    Hiện nay tôi chỉ còn biết trông chờ vào sự phán xét công minh của các nhà lãnh đạo cao cấp của đất nước tôi. Do đó tôi liên tục gửi đơn kêu oan cho chồng tôi. Tôi đã gửi đơn cho ông Tổng bí thư, ông Chủ tịch nước, ông Chủ tịch Quốc hội và rất nhiều ông lãnh đạo cao cấp khác của đất nước tôi. Mong muốn của tôi là các ông ấy bớt chút thời gian xem xét đơn thư của tôi để chồng tôi sớm được trở về cùng mẹ con tôi.

    Hàng ngày tôi và mẹ tôi luôn cầu trời khấn phật mong tác động tới các ông lãnh đạo cao cấp của đất nước để chồng tôi được bình an vô sự.

    Thưa bà !

    Do thực hiện yêu cầu của bà mà chồng tôi, tôi và các con tôi lâm vào hoàn cảnh cực kỳ gieo neo. Tôi là một phụ nữ bình thường, không hiểu biết về chính trị, về đường lối chính sách đối ngoại của đất nước bà vì vậy tôi xin được giãi bày với bà mong có sự cảm thông và hết sức quan tâm của bà.

    Tâm sự với bà xong tôi cảm thấy nhẹ nhõm phần nào. Tôi không còn cảm thấy có lỗi với chồng tôi và các con tôi.

    Tôi cùng toàn thể gia đình xin trân trọng cám ơn bà !

    Chúc bà cùng toàn thể gia quyến an khang.

    Vợ Nguyễn Vũ Bình
    Bùi Thị Kim Ngân

    ----- O -----

    Vietnamese Journalist and Reform Advocate Runs Afoul of Authorities

    Nguyen Vu Binh: Speaking Out

    From the December 2002

    Issue of World Press Review (VOL. 49, No. 12)
    Rachel S. Taylor
    World Press Review associate editor

    Vietnamese journalist and democracy advocate Nguyen Vu Binh has learned the hard way that his country’s communist leadership is not yet ready for real reform.

    Around 8 p.m. on Sept. 25, Binh, 34, received some unwelcome visitors at the home he shares with his wife and two small daughters in the country’s capital, Hanoi. But Binh might have imagined the security officials who came to his door would stop by. As a democracy advocate in a country still tightly controlled by a communist leadership, he has been on the government’s watch list for some time.

    Still, this visit was worse than usual. After searching his home, the police took Binh away. As of this writing, the journalist has not been seen since.

    Binh’s crime remains a mystery, though many suspect it has something to do with an essay he recently wrote and distributed over the Internet. Titled "Some Thoughts on the China-Vietnam Border Agreement," Binh’s piece criticized the Vietnamese government for conceding too much in a 1999 land deal it made with China.

    In September 2000, Binh, who spent more than eight years as an economics reporter for Tap Chi Cong San, the Vietnamese Communist Party’s official journal, stepped down from his Vietnam position and, in a direct challenge to the state’s one-party system, petitioned to form a new Freedom and Democracy Party. Before long, the authorities were closely monitoring him. They cut his home phone line and brought him to the police station repeatedly (at one point taking him in three times in five days). They reportedly "advised" his friends not to meet him and companies not to hire him.

    But Binh was not deterred. Over the next two years, he helped found the Association to Fight Government Officials’ Corruption, published several essays on democracy, and signed a petition to Vietnam’s Parliament calling for reforms. In July, Binh submitted written testimony to the U.S. Congressional Human Rights Caucus, in which he discussed the human-rights situation in Vietnam. Soon after he e-mailed his testimony to Washington, police took him in for questioning and later put him under house arrest.

    With the publication of his essay on the China-Vietnam border agreement, it appears that the authorities thought Binh had gone too far. Since it remains dangerous to speak out against the government, it has been left primarily to democracy advocates and human-rights groups in the United States to campaign for Binh’s release. In the meantime, Binh’s family, friends, and community of fellow democracy advocates have been left to wait and to hope he will be allowed to come home soon.

    ----- O -----

    Xét xử kín Tù Nhân Chính trị là sự hành xử tồi bại của CSVN

    Xét xử kín (closed trial) là việc làm bỉ ổi nhất mà hầu hết các Quốc gia có nền dân chủ tiến bộ đều bải bỏ từ rất lâu và ngày nay Thế gới luôn luôn lên án gay gắt hành vi này, vì tính chất vô nhân đạo của nó.

    Theo quan niệm Nhân đạo, Văn minh, việc xét xử một tù nhân là Tòa án có nhiệm vụ hợp tác với nghi can để cố chứng minh nghi can vô tội, nếu khộng thể làm được điều đó mà ngược lại có đẩy đủ bằng chứng chống lại anh ta (tức là bằng chứng buộc tội) thì khi đó Tòa án mới buộc tội. Điều này cũng gần giống như công tác Thống kê học vậy: Bạn đặt giả thiết là nghi can "không có tội" rồi đi tìm cách chứng minh giả thiết đó là "đúng", nhưng giả thiết "đúng" đó sau khi bạn cố chứng minh lại có xác suất quá nhỏ để xảy ra (ví dụ là <5%) thì buộc lòng khi đó người ta mới đi tới công nhận cái giả thiết đối nghịch, tức là nghi can có tội với một xác suất đúng đáng tin cậy là trên 95% (nhưng lại có <5% còn sai lầm cho quyết định này !). Như vậy các Tòa án văn minh luôn hướng tới một hành vi tưởng chừng là nghịch lý : "Thà bỏ xót chứ không thể giết lầm !". Có nghĩa là "hãy tha thứ ngay cả cho chính kẻ thù của ta" mà các giáo lý Tôn giáo vẫn thường chỉ dạy cho chúng ta. Đúng như thế phải không các bạn ?

    Nhưng điều chúng ta cần bàn tới ở đây là các Quốc gia độc tài, phản dân chủ đều áp dụng hành động xét xử kín cho tất cả mọi cá nhân, tổ chức đối nghịch chính là hành vi đi ngược lại giá trị nhân đạo văn minh cùa loài Người, thật đáng lên án và phỉ nhổ. Tòa án của những chế độ tàn ác này chỉ luôn cố làm điều duy nhất: Buộc tội cho được nghi can chứ chẳng phải tìm cách chứng minh sự vô tội của đương sự như tôi đã phân tích ở trên, thật quả là vô nhân tính !

    Tòa án CSVN thì cũng bẩn thỉu như vậy đó. Chúng ta, ai cũng biết CS luôn xét xử lén lút các nhà yêu nước dân chủ của chúng ta từ BS Nguyễn Đan Quế, BS Phạm Hồng Sơn, LS Lê Chí Quang, Phạm Quế Dương, Nguyễn Khắc Toàn, GS Trần Khuê và sắp tới đây 31-12 là nhà báo dân chủ Nguyễn Vũ Bình ... cho đến những nhà yêu nước khác mà hệ thống Pháp lý độc tài của CS bưng bít hết làm chúng ta không thể biết còn ai nữa không !. Cũng nên nhắc lại cho rõ hơn là trong thời kỳ đấu tố và bao cấp, CSVN khỏi cần xét xử gì cả, ai "chống đối" chế độ đều bắt nhốt tuốt, ai có hành vi "nghiêm trọng" thì bắn bỏ khỏi xét xử !

    Ngày nay, thời đại của Công nghệ Thông tin tiên tiến, CSVN lại còn lén lút hơn để che mắt Thiên hạ, chúng ý thức rằng "rút dây" không còn là "động rừng" nữa mà là "động cả Thế giới", thế nên chúng càng xiết chặt hơn nữa thông tin phản dân chủ của chúng gây ra ở trong nước, đóng cổng xây tường chẳng dám cho ai dòm ngó vào căn nhà ma quái của chúng cả. Sự vô liêm sĩ của CSVN là như vậy đó.

    CSVN hết sức sợ công luận, vì vậy chúng cứ xét xử kín tất cả mọi tù nhân chính trị mà muối mặt làm ngơ, không hề nhục nhã trước mọi chỉ trích, lên án của Thế giới. Riêng ở trong nước tôi hoàn toàn không hề tìm thấy một thông báo nào về việc xét xử tù nhân chính tri nào cả ở bất kỳ phương tiện truyền thông nào của CSVN. Một chế độ hành xử tồi bại như thế cũng chẳng thể nào "một tay che cả bầu Trời" khi mà bên cạnh sự vô nhân tính, tàn bạo của CSVN, vẫn còn đó những lương tri tâm huyết yêu chuộng công bằng, giàu lòng Nhân ái, luôn đấu tranh vì một Việt Nam Dân chủ, Tự do ngày càng lớn mạnh và khát khao hơn bao giờ hết: lật đổ chế độ CSVN độc tài, đem lại sự toàn vẹn làm chủ đất nước thật sự thuộc về nhân dân Việt Nam hiện đang cùng khổ của chúng ta.

    BS Ngu Mặc Kha.
    Sài Gòn-Việt Nam

    ----- O -----

    Thơ Vô Đề

    (Tặng Nguyễn Vũ Bình, Lê Chí Quang, Phạm Hồng Sơn, Nguyễn Khắc Toàn, và những người đang đòi tự do và dân chủ cho Việt Nam)

    Buồn
    Mổ bụng,
    Moi tim gan, ngồi nhắm
    Chén rượu cay nồng
    Quên tháng năm
    Bầu máu nóng
    Chảy tràn sau vòm ngực
    Sợ một ngày
    Ác thú đến
    Moi đi ...

    Hạ 2003
    Tuệ Minh

    Buồn
    Bạn xa
    Ta đêm viễn xứ
    Cất tiếng ca
    Mà cháy cả tim gan
    Chờ
    Ngày mai
    Mặt trời sẽ mọc
    Cất tiếng cười
    Mà đau đớn khôn nguôi

    10_2003
    Nguyễn Bắc Nam


    Vụ Án Nguyễn Vũ Bình