Vụ Án Phật Giáo |
THÔNG CÁO BÁO CHÍ LÀM TẠI PARIS NGÀY 5.12.2003
Năm ý nghĩa chiến lược của Nghị quyết 427 và Quyết nghị về Tự do tôn giáo tại Việt Nam thông qua tại Quốc hội Hoa Kỳ và Quốc hội Âu châu - Trả lời các câu trả lời của Hòa thượng Dân biểu Thích Chơn Thiện
Chỉ cách nhau trong một ngày, ngày 19.11.2003, Hạ viện Hoa kỳ thông qua Nghị quyết 427, sang ngày 20.11.2003 Quốc hội Âu châu thông qua Quyết nghị về Tự do tôn giáo tại Việt Nam. Nội dung tương đồng giữa hai bản Quyết Nghị. Cả hai bản đều hậu thuẫn triệt để Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, cả hai bản đều tố cáo quyết liệt chính sách đàn áp Phật giáo của Hà Nội. Cả hai bản đều yêu sách cho Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất cũng như các Giáo hội không được thừa nhận được phục hồi quyền sinh hoạt và có quy chế pháp lý bảo đảm, cũng như yêu sách trả tự do tức khắc cho nhị vị lãnh đạo Phật giáo : Đức Tăng thống Thích Huyền Quang, Hòa thượng Thích Quảng Độ, các Thượng tọa Thích Tuệ Sỹ, Thích Thanh Huyền, Thích Nguyên Lý và Đại đức Thích Đồng Thọ.
Công luận thế giới chống ngụy luận khủng bố
Sự lên tiếng đồng loạt bằng Nghị quyết của hai trung tâm quyền lực lớn nhất thế giới, Quốc hội Hoa Kỳ và Quốc hội Âu châu, mang lại cho chúng ta 5 ý nghĩa căn bản có tính chiến lược :
Trên và trước hết, đây là công luận thế giới chống lại ngụy luận khủng bố : 680 triệu tiếng nói chống lại 2 triệu đảng viên Cộng sản, đại biểu cho chính sách bất nhân và phi nhân. 680 triệu tiếng nói làm thành công luận thế giới, phát xuất từ 300 triệu công dân Hoa Kỳ thể hiện qua cơ quan đại biểu, vừa phát ngôn vừa lập pháp, là Quốc hội Hoa Kỳ, cộng với 380 triệu công dân thuộc 15 quốc gia thành viên của Liên hiệp Âu châu, mà cơ quan đại biểu, vừa phát ngôn vừa lập pháp, là Quốc hội Âu châu.
Chống lại công luận thế giới là Đảng Cộng sản Việt Nam với lượng số 2 triệu đảng viên. Tuy nhiên, con số 2 triệu này lại không đồng nhất như 680 triệu người kia : con số trong các chế độ độc tài toàn trị chỉ là con số kế toán ; trái lại, con số trong các xã hội văn minh, dân chủ, là cứ liệu nhân văn. Cứ liệu nhân văn phổ biến trong các quốc gia tôn trọng quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí và truyền thông thì chẳng mấy chốc nhân thành công luận toàn cầu.
Đảng cộng sản Việt tuy có 2 triệu đảng viên, nhưng chưa ai dám khẳng định là toàn bộ 2 triệu đảng viên ấy nhất trí tán thành chủ trương khủng bố và đàn áp tôn giáo, nhân quyền hiện tại. Vì từ năm 1988 đến nay, chúng ta không ngừng chứng kiến từng đoàn lớp nông dân ở đồng bằng sông Cửu Long, Thái Bình, Thanh Nghệ hay ven đô Hà Hội không ngừng biểu tình tố cáo Đảng cướp đất, ức hiếp dân lành, mà nông dân vốn được Đảng xem là liên minh chủ lực, rồi phong trào Truyền thống Kháng chiến chống Đảng ở miền Nam lan dần ra Bắc, rồi những phát ngôn phê phán Đảng của những cán bộ có 50, 60 tuổi đảng, như ông Bảy Nguyễn Văn Trấn, cố Tướng Trần Độ, ông Hoàng Minh Chính, ông Phạm Quế Dương, v.v... Hoặc của những cán bộ làm công tác Dân vận và Tôn giáo vận, như ông Nguyễn Quang Huy, khi ông này than phiền với cán bộ cao cấp Đỗ Trung Hiếu, thời hai ông kiến trúc cho Đảng cái gọi là "Hội Phật giáo Việt Nam" năm 1981 : "Đảng không phải là của mình, mà là của mấy ổng, chỉ là của mấy ổng thôi, dù mình là đảng viên. Tất cả đảng viên chỉ là con cờ cho mấy ổng sử dụng thôi, giỏi lắm là được học Nghị quyết và được giơ tay biểu quyết theo ý của mấy ổng".
Với một công luận thế giới như vậy, các tôn giáo, cá nhân, đoàn thể, lực lượng đấu tranh trong nước không còn bị cô lập, bị bách hại mà chẳng ai hay, chẳng ai can thiệp. Thế là, hậu cần và hậu thuẫn quốc tế hình thành. Thời chiến tranh lạnh, các cuộc đấu tranh giành độc lập buộc lòng phải chọn lựa một trong hai siêu cường tư bản hoặc cộng sản, đưa tới hệ lụy thừa sai và biến tướng cuộc đấu tranh dân tộc thành quân cờ khuyển mã cho các đế quốc. Cơ hội ngày nay đã khác : hậu cần và hậu thuẫn quốc tế là lực lượng dân chủ mới trong công cuộc Toàn cầu hóa Dân chủ để thoát ly các chế độ nô lệ, phát xít và độc tài.
Quyền can thiệp
Ý nghĩa thứ hai, là sự lên tiếng đồng tình và đồng loạt qua hai Nghị quyết của hai trung tâm quyền lực lớn nhất thế giới, đang làm bước ngoặt không thể phản hồi cho phong triều dân chủ thế giới. Các biên cương quốc gia độc trị bị phá vỡ trước xu thế toàn cầu hóa kinh tế đang chuyển hóa sang công cuộc toàn cầu hóa dân chủ. Quỹ tiền tệ quốc tế, Ngân hàng thế giới, Thương ước song phương Mỹ-Việt hay Hiệp ước hợp tác kinh tế Liên hiệp Âu châu-Việt Nam đang chỉ huy Nhà nước Cộng sản Việt Nam, đang dần dà biến hóa một cơ chế độc tài toàn trị thành những xã hội công dân trên tiến trình dân chủ hóa. Chỉ là tiến độ của thời gian, như một thỏi sắt tiêu mòn trong chậu cường toan.
Giới tả khuynh Âu châu cực kỳ thất vọng vì lý tưởng hòa bình cho Việt Nam của họ bị người cộng sản Việt dối lừa sau 1975, nên họ phản ứng bằng cách tham gia hậu thuẫn chiến dịch Một Chiếc Tàu Cho Việt Nam năm 1978. Đồng thời với việc thuê tàu ra Biển Đông vớt Người Vượt Biển đi tìm tự do, họ khai mở một quan điểm chính trị mới : Quyền can thiệp. Can thiệp vào bất cứ đâu trên địa cầu, khi ở đó có bất công, đàn áp, đói nghèo. Biên cương quốc gia, nhất là những quốc gia độc tài, phát xít, bị phá vỡ để cho hằng loạt tổ chức có tính từ "không biên giới" hoạt động cứu trợ, cứu nguy và bảo vệ Quyền Con người tối thắng của nhân loại : Hội Y sĩ không biên giới, Hội Luật gia không biên giới, Hội Phóng viên không biên giới, vân vân. Một tư trào Không biên giới phá toang các Ghetto đang phân vùng nhân loại để bóp họng và thảm sát. Chẳng quốc gia nào có lý, khi nại cớ "xâm phạm nội bộ quốc gia", hòng cấm cản sự can thiệp của công luận thế giới với hệ quả của những biện pháp chế tài trong sinh hoạt liên quốc gia, khi quốc gia ấy xâm phạm quyền và nhân phẩm con người.
Pháp lý quốc tế khống chế luật rừng bản địa
Ý nghĩa thứ ba, là quyền can thiệp bằng công luận hay hành động của những tổ chức thế giới trên đây vốn được những công ước quốc tế bảo đảm, mà Liên Hiệp Quốc là diễn đàn khuyến cáo khi những quốc gia thành viên vi phạm. Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, tức Cộng sản Việt Nam, đã tham gia ký kết 8 Công ước quốc tế của LHQ kể từ năm 1981, đó là : Công ước về ngăn ngừa và trừng trị tội diệt chủng (ký ngày 9.6.1981) ; Công ước quốc tế về loại trừ mọi hình thức phân biệt chủng tộc (ký ngày 9.6.1981) ; Công ước quốc tế về Các quyền Dân sự và Chính trị (ký ngày 24.9.1982) ; Công ước quốc tế về Các quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa (ký ngày 24.9.1982) ; Công ước không áp dụng những hạn chế luật định đối với tội phạm chiến tranh và tội phạm chống nhân loại (ký ngày 4.6.1983) ; Công ước quốc tế về ngăn chặn và trừng trị tội ác Apartheid (ký ngày 9.6.1981) ; Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với Phụ nữ (ký ngày 18.12.1982) ; Công ước quốc tế về Quyền Trẻ em (ký ngày 20.2.1990). Đương nhiên còn có Hiến chương Liên Hiệp Quốc và Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền mà Việt Nam phải ký kết công nhận khi đâm đơn làm thành viên LHQ và được chấp nhận vào tháng 9 năm 1977.
Như vậy là Việt Nam phải tuân thủ và thi hành các Công ước nói trên sau khi đặt bút ký kết tham gia. Nước Việt Nam Xã hội Chủ nghĩa không thể nào để cho phát ngôn nhân của mình ăn nói bừa bãi theo luận điểm hàng cá rằng, Nghị quyết 427 của Hạ viện Hoa Kỳ và Quyết Nghị đòi Tự do tôn giáo tại Việt Nam của Quốc hội Âu châu "xâm phạm chuyện nội bộ của Việt Nam". Muốn tránh búa rìu của công luận thế giới, thì đừng ký các Công ước quốc tế, hoặc đã ký rồi hẵng xin rút lại chữ ký. Có vậy tiền hậu mới như nhất, mới cấm cản quốc tế dòm ngó vào nội bộ man rợ, bất nhân của mình. Chuyện khó thực hiện ở thời đại ngày nay, thời đại liên quốc, toàn cầu.
Còn tiếp tục vi phạm các công ước này, đặc biệt là Công ước quốc tế về Các quyền Dân sự và Chính trị, tất sẽ bị Liên Hiệp Quốc, thông qua các quốc gia thành viên khác, tố cáo tại các khóa họp thường niên của Ủy ban Nhân quyền LHQ tại Genève. Hà Nội không thể nại cớ chuyện nội bộ Việt Nam để cấm các nước khác không được "xía" vào chuyện đàn áp trên lãnh thổ mình. Quốc gia nào cũng thế, khi đã tham gia ký kết một công ước quốc tế thì phải tuân hành công ước ấy tại quốc gia mình, phải làm sao cho pháp luật nước mình không trái chống với các công ước quốc tế đã ký kết. Đây là nghĩa vụ quốc tế phải tuân thủ, và cũng là điều sơ đẳng về sinh hoạt chính trị trên bàn cờ thế giới vào đầu thế kỷ XXI.
Cho nên, người Việt ở trong hay ở ngoài nước đều có quyền hoan nghênh, hỗ trợ hoặc góp công làm cho những Nghị quyết phê phán như thế tiếp tục dóng lên, nhằm chận đứng bàn tay khủng bố lương dân của những nhà nước coi thường hay xé bỏ luật pháp đã ký kết. Đây chính là hành xử việc người của nhân loại và cũng là thái độ của khối nhân dân đông đảo trên địa cầu trước nạn Đức quốc xã và chế độ Gulag Xta-lin-nit. Một hành xử đưa tới việc thanh toán hai chế độ giết người này vào năm 1945 rồi năm 1990.
Tháng 7 năm 2002, Hà Nội gửi một phái đoàn do ông Hà Hùng Cường, Thứ trưởng Bộ Tư pháp, cầm đầu sang Genève báo cáo nhân quyền và phúc trình về sự thi hành Công ước quốc tế về Các quyền Dân sự và Chính trị tại Việt Nam. Phái đoàn Hà Nội đã vô cùng lúng túng và đầu hàng trước 100 câu chất vấn của các chuyên gia nhân quyền LHQ. Kết thúc khóa họp, Ủy ban Nhân quyền LHQ đã đưa ra 8 lời phê phán Việt Nam vi phạm Công ước quốc tế về Các quyền Dân sự và Chính trị và 10 khuyến cáo mà Việt Nam phải tuân thủ thi hành.
Tương tự lối hành xử pháp lý quốc tế như thế, hạ tuần tháng 11 năm nay, Nghị quyết 427 rồi Quyết nghị về tự do tôn giáo thông qua tại Quốc hội Hoa Kỳ và Quốc hội Âu châu. Một lần nữa nói lên sự vi phạm nhân quyền trầm trọng và bất tuân thủ nghĩa vụ quốc tế của Nhà cầm quyền Hà Nội. Đâu phải chuyện ngẫu nhiên. Nhân quyền cơ bản và những nguyên tắc dân chủ là điều khoản làm nền tảng trong các hiệp ước hợp tác kinh tế giữa Việt Nam và các quốc gia trên thế giới, dù các quốc gia này là Nhật bản, Hoa Kỳ, Liên hiệp Âu châu, v.v...
Do đó, mà hai Nghị quyết nói trên đặt giới cầm quyền ở Hà Nội trước một chọn lựa tối hậu : Bước theo xu thế mới của thế giới trong công cuộc toàn cầu hóa trên các địa hạt kinh tế, nhân quyền và dân chủ ; hay từ khước tham dự vào bàn cờ quốc tế ? Chọn lựa đầu bắt Hà Nội phải thay đổi chính sách nhân quyền và tôn giáo tại Việt Nam. Chọn lựa sau đưa chế độ trở về thời cấm vận kinh tế và chính trị, thời mà chính những người cộng sản cứng đầu ở Đại hội VI, năm 1986, cũng đành chân nhận là bế tắt, cụt đường. Không "đổi mới" là chết. Thế nhưng cuộc "đổi mới" ấy còn nửa vời, lửng lơ trên cuộc cải cách kinh tế theo định hướng phá sản. Trầm trọng hơn, chưa chấp nhận đổi thay chính trị.
Thực tại Việt Nam qua những lời tuyên bố hốt hoảng
Ba ý nghĩa quốc tế nói trên dẫn đến ý nghĩa của thực tại Việt Nam, một thực tại đàn áp và khủng bố tôn giáo và các thành phần dân tộc không cộng sản. Cuộc đàn áp dựa vào ý thức hệ đấu tranh giai cấp đã lạc hậu và lỗi thời, và đã không ngừng dẫn tới sự suy đồi đạo lý, nuôi dưỡng các tệ nạn xã hội và quốc nạn tham quan ô lại. Chỉ nói trên lĩnh vực sức khỏe của một dân tộc, là nền y tế quốc dân, thì năm nay cơ quan Y tế thế giới của LHQ sắp Việt Nam đứng hàng thứ 187 trên 191 quốc gia có nền y tế tồi tệ nhất. Về tham quan ô lại, thì ông Tạ Hữu Thanh, Tổng thanh tra nhà nước, cho báo Tuổi trẻ biết rằng, 40% ngân quỹ nhà nước lọt vào túi của đủ thứ tham nhũng. Còn pháp luật, cơ quan cầm chịch cho công lý và công bằng xã hội, thì vừa được các quốc gia Âu Mỹ tài trợ 5 triệu Mỹ kim cho 4 năm đầu để thực hiện cuộc "cải cách chiến lược nền pháp lý quốc gia" trong vòng 10 năm tới. Thế nhưng Nghị định 31/CP vẫn ngự trị cuộc áp bức những ai không khứng làm khuyển mã cho ý thức hệ Mác-Lê. Nghị định này cho phép quản chế hành chính bất cứ ai từ 6 tháng đến 2 năm mà không cần thông qua tòa án. Và còn biết bao nghị định, sắc luật, chỉ thị... ban hành cho mục tiêu duy nhất là pháp-luật-hóa sự tùy tiện và khủng bố.
Ý nghĩa của thực tại Việt Nam càng lộ rõ hơn qua các lời tuyên bố bất nhất và hốt hoảng của nhà cầm quyền Hà Nội xuyên qua người phát ngôn ở Bộ Ngoại giao, và nay thêm chiến thuật mới, dùng khẩu Phật tâm xà của các nhà Sư bù nhìn trong tổ chức Phật giáo của Đảng.
Dấu hiệu bất lực trên đà tan vỡ của quyền bính, là khi nó cậy nhờ tôn giáo làm phép lạ cho công cuộc tuyên truyền phi chính nghĩa.
Đã có hàng trăm nhà Sư được Đảng cho xuống đường trên các xa lộ thông tin nhằm bênh vực chế độ trong công tác thanh toán Giáo hội truyền thống và dân lập, là Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất. Đại biểu cho chiến dịch "Cổi áo Cà sa mặc Vét hồng" này là các ngài Thích Thanh Tứ, Thích Trí Tịnh, Thích Chơn Thiện... Họ phát ngôn theo 4 luận điểm : 1. Không có đàn áp tôn giáo, không có bắt bớ Tăng tín đồ Phật giáo tại Việt Nam ; 2. Giáo hội Phật giáo Việt Nam (mà ban Dân vận và Ban tôn giáo chính phủ gọi là "Hội Phật giáo Việt Nam", còn Bộ Ngoại giao thì gọi là "Hội Tăng già Việt Nam") ra đời năm 1981 là giáo hội chính thống, đại biểu duy nhất cho toàn thể Phật tử Việt Nam ; 3. Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất không còn nữa, vì đã sáp nhập vào Giáo hội Phật giáo Nhà nước từ năm 1981 ; và 4. Hai Nghị quyết của Hạ viện Hoa Kỳ và Quốc hội Âu châu vu cáo và xuyên tạc tình hình thực tế ở Việt Nam và xâm phạm chuyện nội bộ quốc gia.
Phải chăng các nhà Sư này bị bó buộc tuyên bố cho vừa lòng Đảng theo những chiến dịch tuyên truyền chính trị nhất thời, mà người ta không ngừng chứng kiến suốt sáu mươi năm qua ? Khi thì Đảng xua nửa nghìn nhà văn, nhà thơ, nghệ sĩ, nhạc sĩ chửi bới Nhóm Nhân Văn - Giai phẩm, khi thì xua "Nhất đội nhì trời" đi thảm sát nông dân, rồi sau đó Đảng đứng ra xin lỗi đã sai lầm giết hại nông dân trong Cải cách ruộng đất, vân vân và vân vân. Không xa lắm đâu, lịch sử sẽ phán đoán về những nhà Sư này. Nhưng ngay bây giờ, ai cũng đều thấy rõ các nhà Sư ấy ăn nói theo điệu Đảng, điệu Dân biểu Quốc hội Cộng sản, chứ không là ăn nói theo Chánh pháp. Tăng sĩ mà làm dân biểu quốc hội, là đã phạm giới Ba la đề mộc xoa rồi, chứ đừng nói chi khác.
Ý nghĩa của con đường cứu khổ và giải phóng nhân sinh
Ý nghĩa thứ năm là ý nghĩa phổ quát toàn cầu của Đạo Phật, đạo Cứu khổ và Giải phóng nhân sinh, nay được Tây phương chào đón. Nghị Quyết 427 của Hạ viện Hoa Kỳ tán thán hàng giáo phẩm vừa được bổ sung vào Viện Tăng thống và Viện Hóa Đạo tại tiền Đại hội Bất thường tổ chức ở Tu viện Nguyên Thiều, tỉnh Bình Định, như sau : "Hạ viện Hoa Kỳ chúc mừng hàng Giáo phẩm của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất mới được công cử". Tán thán nhân sự của một nền đạo lý Đông phương không là lời ca tụng suông. Nhất là khi nền đạo lý có gần ba nghìn năm tuổi ấy không được chính quyền sở tại công nhận. Sự tán thán này mang ý nghĩa chào đón và công nhận quốc tế về tính chất Cứu Người phổ quát của đạo Phật, như một giải pháp mới trước cuộc khủng hoảng văn hóa và tư tưởng mà thế giới đang kinh qua, đặc biệt ở khu vực châu Á.
Đây cũng là nhận thức mà chúng tôi trình bày trong cuộc họp báo do bà Dân biểu Loretta Sanchez tổ chức tại Hạ viện Hoa Kỳ ở Hoa Thịnh Đốn hôm 5.11.2003 : "Mặc dù người Phật tử Việt Nam sống xa với thế giới Hiệp chủng quốc, trong không gian cũng như thời gian, nhưng chúng ta vẫn cùng chia sẻ sự gắn bó thiết tha với dân chủ, tự do và nhân quyền. Đạo Phật Việt Nam thấm nhuần tinh thần tự do và công lý. Từ 2000 năm trước, Phật giáo Việt Nam phát triển con đường dấn thân phục vụ xã hội, điều hiếm thấy tại các quốc gia theo đạo Phật ở Châu Á. Ở Việt Nam, chúng tôi thực hiện nền Phật giáo hóa thân và dấn thể, kết liên giữa giác ngộ bản thân với sự giải phóng sinh dân ra khỏi vô minh và áp bức. Qua trường kỳ lịch sử, Phật tử Việt Nam tham gia tích cực trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội cũng như chính trị, chiến đấu chống nghèo hèn, chống phân biệt đối xử và bất công xã hội. Ngày nay, người Phật tử Việt Nam cũng đang chiến đấu như thế trong một phong trào bất bạo động lớn rộng cho nhân quyền và dân chủ.
"Rudyard Kipling có lần nói : "Đông là đông, Tây là tây, Đông và Tây không bao giờ gặp nhau". Tôi nghĩ rằng cuộc họp báo chung của chúng ta hôm nay chứng minh ngược lại quan điểm này. Nền Dân chủ Hoa Kỳ và nền Phật giáo Việt Nam, hai cơ sở tuy xa khác, thế mà lại trở thành những truyền thống hỗ tương, cùng gặp gỡ nhau hôm nay cho tiêu đích chung, là cùng tiến hành dân chủ hóa Việt Nam và thế giới. Trong kỷ nguyên mới hôm nay, chúng ta cùng nhau chia sẻ công tác Dân chủ hóa Toàn cầu, để cho nhân dân trên trái đất được hưởng các quyền sống trong an lạc, trong môi sinh an toàn, trong khung cảnh pháp quyền".
Võ Văn Ái
Thời gian qua, Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế nhận được nhiều thư của độc giả ở Úc châu, Hoa Kỳ cũng như trong nhiều nước Âu châu và Đông Âu hỏi thăm về Hòa thượng Thích Chơn Thiện qua sự lên tiếng của ngài về hai Giáo hội Phật giáo Việt Nam (của Nhà nước) và Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, về Nhị vị Hòa thượng lãnh đạo Thích Huyền Quang, Thích Qủang Độ, về Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế, về Nghị quyết 427 thông qua tại Hạ viện Hoa Kỳ ...
Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế xin được trả lời chung như sau về con người và hoạt động của Hòa thượng Thích Chơn Thiện :
Trong cuộc giao lưu trực tuyến trên báo điện tử VietnamNet chiều ngày 26.11.2003, Hòa thượng Thích Chơn Thiện có trả lời 20 câu hỏi về hiện tình Phật giáo ở Việt Nam. Điều trước tiên phải đồng tình là phần giới thiệu tiểu sử Hòa thượng của tờ báo điện tử tương đối đúng : Hòa thượng Thích Chơn Thiện hiện nay là Phó trưởng ban Thường trực Ban Phật giáo Quốc tế, Trưởng ban Giáo dục Tăng Ni Trung ương của Giáo hội Phật giáo Việt Nam (tức Giáo hội Nhà nước), Viện trưởng Học viện Phật giáo Việt Nam tại Huế, Đại biểu Quốc hội khóa XI ; Hòa thượng là tác giả và dịch giả của 15 cuốn sách ; Hòa thượng đã tốt nghiệp Cao học Tâm lý giáo dục tại Hoa Kỳ năm 1973 và Tiến sĩ Phật học tại Ấn Độ năm 1996 ; Hòa thượng là đệ tử và từng làm thị giả cho Cố Đại lão Hòa thượng Thích Tịnh Khiết, Đức Đệ nhất Tăng thống Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất.
20 câu hỏi đến từ khắp vùng đất nước, từ đồng bằng đến cao nguyên, kể cả từ ngoài nước : 8 câu đến từ Hà Nội, 1 câu đến từ Saigon, 2 câu đến từ Hai phòng, 1 câu đến từ Vinh, 1 câu đến từ Gia Lai, 1 câu đến từ Nam Định, 1 câu đến từ California, Hoa Kỳ, 2 câu đến từ Anh, 1 câu đến từ Pháp, 1 câu đến từ Đài loan, và 1 câu không biết xuất xứ.
Cái khéo là 20 câu hỏi đến từ năm châu bốn biển lại giúp cho Hòa thượng trả lời vào đúng các câu hỏi trung tâm mà Nhà nước Cộng sản đang bối rối, quan ngại và mong cầu giải tỏa : 1. Vị thế chính thống và duy nhất của Giáo hội Phật giáo Việt Nam (Giáo hội Nhà nước) ; 2. Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất bất hợp pháp, từ đó đi tới nhận định về Đức Tăng thống Thích Huyền Quang và Hòa thượng Thích Quảng Độ, Viện trưởng Viện Hóa Đạo ; 3. Phủ nhận Nghị quyết 427 của Hạ viện Hoa Kỳ ; 4. Đánh phá Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế.
Trả lời 4 vấn đề chính yếu trên đây, Hòa thượng Thích Chơn Thiện không ăn nói theo ngôn ngữ của người Tăng sĩ Phật giáo tôn trọng sự thật lịch sử của nền Phật giáo cận đại. Hòa thượng Thích Chơn Thiện ăn nói như một Dân biểu của Quốc hội Cộng sản, cho nên kể từ đây chúng tôi gọi ngài là Dân biểu Thích Chơn Thiện để thương xác các câu trả lời của ngài. Chúng tôi cũng dám khẳng định Quốc hội mà ngài làm Đại biểu là Quốc hội Cộng sản chứ không là Quốc hội Việt Nam. Vì một lẽ rất đơn giản : 90% đại biểu trong Quốc hội này là đảng viên Cộng sản, phần còn lại tuy không đảng viên nhưng phải được Mặt trận Tổ quốc bình bầu thì mới được ứng cử và trúng cử. Ai lại không biết Mặt trận Tổ quốc là đứa con song sinh của Đảng Cộng sản ? Trong một nước có 80 triệu dân, mà 78 triệu người không có một đại biểu nào tại Quốc hội. Trong khi ấy cái Đảng thiểu số 2 triệu người lại chiếm trọn mọi ghế trong Quốc hội. Cho nên phải chính danh nó là Quốc hội của đảng Cộng sản. Dân biểu Thích Chơn Thiện tuy không có thẻ đảng như ông xác nhận qua cuộc phỏng vấn nói trên, mà chúng ta có thể tin. Nhưng có gì khác nhau giữa một đảng viên phục vụ Đảng, với một người không đảng viên nhưng lại phục vụ hết mình cho Đảng ?
Tám điều chúng tôi muốn thương xác với Ngài Dân biểu Thích Chơn Thiện :
Thứ nhất, cần chân nhận sự phạm giới của Ngài Thích Chơn Thiện khi làm Dân biểu cho Quốc hội Cộng sản. Ngài là Tăng sĩ, lại từng viết một cuốn sách về "Tăng già thời Đức Phật", hẳn Ngài phải tự biết Ngài phá giới hạnh Ba-la-đề-mộc-xoa (Pratimoksa) khi đã đầu tròn áo vuông mà lại vào ngồi chễm chệ trong cái hội trường thế tục gọi là Quốc hội kia.
Thứ hai, trả lời hai câu hỏi đến từ Hà Nội, Dân biểu Thích Chơn Thiện đoan quyết rằng : "Đã là một tu sĩ Phật giáo thì phải tôn trọng sự thật" (...) "Tôi xin thành thật xác nhận, cho đến bây giờ, tôi thực sự là một tu sĩ Phật gíao. Tôi chưa bao giờ là một Đảng viên Cộng sản hay là cán bộ của chính quyền".
Vậy xin được hỏi Dân biểu Thích Chơn Thiện hai sự kiện sau đây, Dân biểu hành xử theo tư cách Tăng sĩ Phật giáo hay theo cương vị cán bộ của Chính quyền :
Sự kiện thứ nhất qua việc Nhà cầm quyền Hà Nội muốn cướp một ngôi chùa của Phật tử Việt Kiều ở ngoại ô Paris làm trạm giao liên và tuyên truyền cho Đảng. Đó là chùa Trúc Lâm. Chùa này do cố Hòa thượng Thích Thiện Châu dựng lập. Ai cũng biết trước 1975, Hòa thượng Thiện Châu hoạt động chính trị cho Hà Nội và Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam. Vì vậy, năm 1966, Viện Hóa Đạo đã ra Thông tư cất chức Chủ tịch Hội Phật tử Việt kiều Hải ngoại tại Pháp của Thượng tọa Thích Thiện Châu, là một Chi bộ hải ngoại của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất. Nói rõ xuất xứ như thế để hiểu rằng, từ nguyên thủy đa số giới Phật tử chùa Trúc Lâm thân Hà Nội. Thế nhưng những năm gần đây, chân nhận ra tính chất độc tài toàn trị, lại đàn áp Phật giáo, của nhà cầm quyền Hà Nội. Nên Ban Quản trị chùa Trúc Lâm chia thành hai nhóm. Nhóm do hai giáo sư Lê Thành Khôi làm Chủ tịch Hội và Nghiêm Xuân Hải làm Tổng Thư ký, muốn cho chùa hoạt động thuần túy tôn giáo, không chịu theo chỉ thị chính trị đến từ Ban Tôn giáo Chính phủ và Sứ quán Hà nội tại Paris. Dù chùa Trúc Lâm thống thuộc hệ thống Giáo hội Phật giáo Việt Nam (Giáo hội Nhà nước). Còn phe kia thì dùng chùa làm bàn đạp hoạt động chính trị cho đảng Cộng sản và Sứ quán. Chùa được thành lập theo luật hội đoàn 1901 của Pháp, nên phe của hai giáo sư Lê Thành Khôi và Nghiêm Xuân Hải đòi hỏi quyền tự trị và quyền sinh hoạt tự quản của cộng đồng Phật tử tại Pháp.
Chia rẽ và tranh chấp trầm trọng đến độ hai phe đã đưa nội vụ ra tòa án Pháp. Chùa Trúc Lâm mà tuột khỏi vòng tay Đảng Cộng sản Việt Nam, sẽ "làm sụp đổ hàng loạt các trung tâm quyền lực của Đảng bộ tại Pháp". Thế nên, từ ngày 11 đến 14.7.2002, ông Lê Quang Vịnh, Trưởng ban Tôn giáo Chính phủ, cầm đầu một phái đoàn Nhà nước bí mật bay sang Paris giải quyết. Phái đoàn gồm có : các ông Lê Quang Vịnh, Ngô Yên Thi, Trần Khánh Dư, Tạ Nguyên Ngọc, Trịnh Hồng Đoàn cùng các chức sắc Thích Thanh Tứ, Thích Hiển Pháp, Thích Chơn Thiện, Thích Thanh Nhiễu và Thích Thiện Nhơn. Giải quyết chuyện một ngôi chùa Phật giáo, nhưng lại không họp tại chùa trước đông đảo hội viên của chùa. Ba cuộc họp giải quyết kín đáo tổ chức tại Sứ quán Paris trước sự hiện diện của Phái đoàn Lê Quang Vịnh , ông Đại sứ Nguyễn Mạnh Dũng và ông Cao Vân, Ủy viên Tôn giáo của Sứ quán. Phái đoàn Lê Quang Vịnh triệu tập các phe phái chùa Trúc Lâm để lên lớp chính trị và yêu sách thành lập Ban Hòa giải hòng tiến tới Ban Quản trị Chùa Trúc Lâm. Ban này do Ban Tôn giáo và Sứ quán đề cử, đa số thành phần là người của Đảng lại chưa hề quy y theo đạo Phật. Tại cuộc họp đầu tiên ngày 11.7.2002, phe ông Lê Thành Khôi phản bác các điều kiện do Phái đoàn Lê Quang Vịnh đề nghị. Lại còn yêu sách giải tán Ban Quản trị do Phái đoàn và Sứ quán đề cử, vì ban này bất hợp pháp theo luật pháp của Nhà nước Cộng hòa Pháp. Yêu sách bị Phái đoàn Lê Quang Vịnh bác bỏ. Vì thế, giáo sư Lê Thành Khôi tuyên bố tẩy chay cuộc họp và bỏ ra về trước khi bế mạc.
Hai cuộc họp sau đó, cũng tại Sứ quán, đi tới việc áp đặt của Đảng và Sứ quán trong việc điều hành chùa Trúc Lâm, trước sự phản đối và bất tuân của hội viên chùa. Sự việc gì xẩy ra sau đó ? Xin hãy nghe lời phán đoán của Đạo hữu Nguyên Đạt Nguyễn Văn Khoa, đệ tử của Cố Hòa thượng Thích Thiện Châu (theo Đảng) phát biểu qua bức "Thư ngỏ gửi "Ban Hòa giải" Hội Phật tử Việt Nam tại Pháp". Ở đây cần nói rõ là ông Khoa chưa hề có một liên hệ nào với chính quyền Việt Nam Cộng hòa cũ, chẳng những thế, trước năm 1975 ông còn theo chân Bổn sư Thích Thiện Châu của ông ủng hộ "cuộc đấu tranh chống Mỹ Ngụy của Nhà nước ta". Ông Khoa viết :
"50 ngày sau đó, (tức sau 3 cuộc họp vào trung tuần tháng 7 của Phái đoàn Lê Quang Vịnh), Đảng, Nhà nước Cộng sản Việt Nam và Giáo hội Nhà nước phải gửi sang Paris một ông "Hòa thượng" kiêm Dân biểu quốc hội đến chùa Trúc Lâm với danh nghĩa là "Giảng giáo lý trong vòng một tháng và thuyết pháp nhân ngày lễ Vu Lan (tổ chức ngày 8/09/02). Nhưng thật ra là để củng cố Ban Hòa Giải què quặt do Phái đoàn (Lê Quang Vịnh) đẻ ra trước đó 50 ngày, đồng thời lợi dụng Giáo lý nhà Phật để tuyên truyền đạo đức "Cách mạng" Xã hội Chủ nghĩa và tư tưởng Hồ Chí Minh. Một mặt nhằm phỉnh gạt quần chúng, mặt khác nhằm lũng đoạn tinh thần và hàng ngũ của những người Phật tử chân chính của Trúc Lâm. Dưới mắt Bắc bộ phủ và Trung tâm Chỉ đạo triệt hạ Phật giáo đặt tại chùa Quán Sứ, Hà Nội, thì nhóm Phật tử của chùa Trúc Lâm là quả bom nổ chậm có sức công phá rất lớn có thể làm sụp đổ hàng loạt các Trung tâm quyền lực của Đảng bộ tại Pháp, các cơ sở Kiều vận cũng như Kinh tài của Hà Nội tại Paris, từ đó lan ra khắp nơi trên thế giới và gây cảm hứng cho đồng bào quốc nội đứng lên lật đổ chế độ toàn trị hiện hành. Đây là lý do chính làm Bắc bộ phủ phải mất ăn mất ngủ, phải gửi đi một Phái đoàn hùng hậu như thế. Và bằng mọi giá phải gở cho được ngòi nổ của quả bom.
"Nhưng lại một lần nữa Hà Nội chuốc lấy thất bại thảm hại. Ngay trong buổi "thuyết pháp" đầu tiên của ông "Hòa thượng" kiêm Dân biểu, kiêm Trưởng ban Quốc tế Giáo hội Phật giáo Việt Nam, kiêm Giám đốc Học viện Phật giáo Việt Nam tại Huế, "Thích" Chơn Thiện đã bị Phật tử tại đây lột mặt nạ (xem "Thư gửi ông Hòa thượng Dân biểu Thích Chơn Thiện" của Tôn Nữ Vĩnh Hằng) và tẩy chay các buổi "giảng" đạo của ông sau đó. Đứng trước tâm hành Bi Trí Dũng của Phật tử Trúc Lâm, đương sự đã phải rơi lệ tự thương cho thân mình mấy mươi năm tu học, gần cuối đời tưởng lên được lão làng. Nhưng than ôi ! Chợt thấy ra, đây là Paris chứ không phải Huế, Saigon, Hà Nội. Làm gì có Công an với súng AK, còng US để lên án tử hình, cột đầu, trói tay đưa đi "cải tạo" hay quản thúc tại gia theo Nghị định 31/CP. Thế là ông "Hòa thượng" Dân biểu đành phải kết thúc công tác của Đảng và Giáo hội Nhà nước giao phó trước thời hạn". Ông Nguyễn Văn Khoa còn tố cáo cái "Ủy ban Hộ trì Tam Bảo" ở chùa Trúc Lâm mà Dân biểu Thích Chơn Thiện và Sứ quán Paris hộ trì lập ra là "Ủy ban Tam Bạo Đảng Cộng sản, Nhà nước và Sứ quán".
Thưa Dân biểu Thích Chơn Thiện, ngài Tây du thuyết giảng giáo lý đạo Phật hay ngài làm "cán bộ của Chính quyền" đi công tác kiều vận quốc ngoại như ngài nhỏ nhẹ phủ nhận trong cuộc phỏng vấn của báo điện tử VietnamNet ?
Chưa hết đâu, vì ai cũng có thể một lần lầm lỡ "tay đã nhúng chàm". Nhưng ngài nhúng chàm nhiều lần lắm. Xin kể thêm một lần tương tự khác qua sự kiện thứ hai sau đây :
Trong bản báo cáo viết tay và ấn ký, ngài Dân biểu Thích Chơn Thiện kể : "8 giờ ngày 28.8.2000, cả Đoàn Tôn giáo Việt Nam đến trụ sở Liên Hiệp Quốc (New York) để dự Hội nghị thì mới rõ là Ban Tổ chức Hội nghị đã mời một vị "hòa thượng" không có chân trong Giáo hội Phật giáo Việt Nam làm đại biểu chính thức cho Tôn giáo Việt Nam. Thế là một cuộc đấu tranh cực kỳ phức tạp để giành tư cách đại biểu của Đoàn. Phái đoàn Thường trực của nước ta tại Liên Hiệp Quốc phải can thiệp trực tiếp cho đến gần 2 giờ sau, Ban Tổ chức Hội nghị mới thừa nhận Đoàn ta là Đoàn Đại biểu chính thức". Thế rồi trong thời lượng 3 phút phát biểu mà LHQ cho phép, Dân biểu Thích Chơn Thiện nói gì cho Phật giáo Việt Nam ? Theo báo cáo của chính ngài Chơn Thiện, thì ngài Dân biểu đã bênh vực cho lập trường Hà Nội khi ngài Dân biểu khẳng định : "Chính phủ Việt Nam luôn tôn trọng tín ngưỡng và tự do tôn giáo của các công dân Việt Nam".
Mô Phật ! Thưa Dân biểu Thích Chơn Thiện, ngài Mỹ du để hoằng dương đạo Phật Việt Nam hay ngài làm "cán bộ của Chính quyền" đi công tác quốc tế vận cho Đảng và Nhà nước cộng sản như ngài nhỏ nhẹ phủ nhận trong cuộc phỏng vấn của báo điện tử VietnamNet ?
Từ những điều không thật trên đây, chúng tôi không muốn dùng chữ dối láo, ngài Dân biểu Thích Chơn Thiện đã vọng ngữ 6 lần sau đây :
Lần thứ nhất, khi khẳng định vị thế chính thống và duy nhất của Giáo hội Phật giáo Việt Nam, là Giáo hội Nhà nước. Những điều ngài dân biểu giải thích dài dòng về quá trình thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam cùng những số liệu trường ốc Phật giáo, kinh sách xuất bản, học vị các Tăng sĩ, v.v... chúng tôi đã từng nghe Nhà nước nhắc đi nói lại hoài hoài. Hồi còn mồ ma ông Lê Mai, chúng tôi đã phản bác ngay tại Hội Nghị Nhân quyền Thế giới do Liên Hiệp Quốc tổ chức tại thủ đô Áo ở Vienne năm 1993. Ông Lê Mai và người phụ tá, bà Tôn Nữ Thị Ninh, đã phải ngậm đắng nuốt cay. Xin hỏi nhỏ Dân biểu Thích Chơn Thiện 4 điều : Một là, Đại học Vạn Hạnh của Phật giáo trước năm 1975 nay ở đâu rồi ? Hai là, Giáo hội Phật giáo Nhà nước có nhà xuất bản riêng như trước năm 75 để in kinh sách, hay phải trình giao cho nhà in của Đảng như hiện nay ? Ba là, ngoài tờ báo Giác Ngộ chuyên in cờ đỏ sao vàng và những chỉ thị của Mặt trận, còn có báo chí tư nhân nào khác của Phật giáo như trước năm 75 ? Bốn là, ngài và Nhà nước cứ khoe hoài Đại tạng kinh, xin Ngài xác nhận có phải cái gọi là Đại tạng kinh này chưa phải là bản Đại tạng đã in hằng chục thế kỷ trước ở Trung quốc, Triều Tiên, Nhật bản ? Đại tạng mà ngài và Nhà nước rêu rao chỉ là những bản dịch đã thực hiện tại miền Nam trước năm 75 ? Còn cái Giáo hội Phật giáo Việt Nam thành lập năm 1981, là tổ chức Phật giáo bù nhìn của Đảng không hơn không kém. Không tin, xin ngài Dân biểu nên đọc lại tài liệu "Thống nhất Phật giáo" của cán bộ cao cấp Đỗ Trung Hiếu. Ông Hiếu cho biết thừa lệnh 3 ông Trưởng ban Dân vận ở Bộ Chính trị, Xuân Thủy, Nguyễn Văn Linh và Trần Quốc Hoàn để thành lập ra làm công cụ cho Đảng. Bà mụ cuối cùng đẻ ra cái Giáo hội của các ngài là ông Trần Quốc Hoàn, 30 năm liên tiếp giữ chức Bộ trưởng bộ Nội vụ vấy máu lương dân. Ngài Dân biểu sẽ thối thác vì bận công vụ cho Nhà nước, không có thì giờ đọc tài liệu nói trên. Cho nên, chúng tôi xin dẫn một câu ông Đỗ Trung Hiếu nhận định về sự thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam (Nhà nước) tại chùa Quán Sứ, Hà Nội, ngày 4.11.1981, như sau : "Thực sự đại biểu là giữa Phật giáo của ta và Gíao hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất. Ban Vận động Thống nhất Phật giáo Việt Nam đều là đại biểu dự Đại hội, trong đó đại biểu của ta đa số. Chín tổ chức và hệ phái Phật giáo, Gíao hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất là một, còn lại tám với những danh nghĩa khác nhau, nhưng tất cả đều hoặc là ta hoặc là chịu sự lãnh đạo của Đảng". (...) "Cuộc thống nhất Phật giáo lần này bên ngoài do các hòa thượng gánh vác, nhưng bên trong bàn tay đảng Cộng sản Việt Nam xuyên suốt quá trình thống nhất để nắm và biến tướng Phật giáo Việt Nam trở thành một tổ chức bù nhìn của Đảng".
Lần thứ hai, khi được một người ở Gia Lai hỏi "Hòa thượng có suy nghĩ gì về Hòa thượng Thích Huyền Quang và Thượng tọa (sic) Thích Quảng Độ ?". Dân biểu Thích Chơn Thiện đáp : "Trước năm 1975, nhị vị Hòa thượng là cấp lãnh đạo Phật giáo của chúng tôi (...) Riêng hoạt động của nhị vị Hòa thượng nhân danh Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, thì nhị vị Hòa thượng chịu trách nhiệm với lịch sử, với Giáo hội Phật giáo Việt Nam và với luật pháp của Nhà nước hiện nay". Trả lời như thế, là đưa dao cho nhà nước cứa cổ hai Cao Tăng Phật giáo rồi còn gì. Lòng từ bi học hỏi 43 năm qua ngài Tăng sĩ để đâu ? Ấy là chưa nói tới kiến thức mơ hồ của Tiến sĩ Thích Chơn Thiện về khái niệm lịch sử rất sặc mùi duy vật lịch sử này.
Lần thứ ba, khi trả lời câu hỏi của người ở Hải Phòng : "Mới đây, tôi đọc trên một website ở nước ngoài nói rằng các hòa thượng ở miền Nam bị chính quyền đàn áp, cấm hoạt động, giam lỏng. Vậy xin Hòa thượng cho biết điều này có đúng không ? Rất đoan quyết, Dân biểu Thích Chơn Thiện đáp ngắn gọn như đinh đóng cột : "Xin trả lời thẳng thắn điều đó hoàn toàn sai sự thực". Ngài Dân biểu bất chấp cả lời xác nhận của ông phát ngôn nhân Bộ Ngoại giao, Lê Dũng, trả lời các hãng thông tấn quốc tế vào thượng tuần tháng 11 rằng, đã ra Quyết định quản chế 2 năm các Thượng tọa Thích Tuệ Sỹ, Thích Thanh Huyền, Thích Nguyên Lý và Đại đức Thích Đồng Thọ, cũng như đang tiến hành điều tra Nhị vị giáo phẩm cao cấp Thích Huyền Quang và Thích Quảng Độ "mắc trọng tội".
Lần thứ tư, khi một người ở Đài Loan hỏi về cuộc tuyệt thực của Hòa thượng Thích Thiện Hạnh ở Huế. Dân biểu Thích Chơn Thiện đáp theo điệu "mặt trận phía Tây vẫn yên tĩnh" : "Tôi rời Huế một tháng rưởi nay rồi nên không biết rõ tình hình hiện tại của hòa thượng hiện tại ở Huế. Điều mà tôi biết ngày gần nhất là tình hình Phật giáo ở Huế rất bình ổn, và sinh hoạt ở chùa Bảo Quốc, nơi Hòa thượng Thiện Hạnh cư trú, vẫn bình thường". Vừa làm Huề thượng ở Huế lại là Dân biểu Quốc hội mà không biết dân tình ở Huế ra sao thì thật hết ý. Trong bài phỏng vấn trực tuyến nói trên, báo điện tử VietnamNet còn cho đăng 4 tấm hình ngài Dân biểu Thích Chơn Thiện quanh quẩn bên các cô duyên dáng tại tòa soạn báo điện tử VietnamNet. Thế nhưng ngài chẳng lợi dụng các máy điện tử la liệt trước mắt để xem hình Hòa thượng Thích Thiện Hạnh tuyệt thực ở chùa Bảo Quốc, Huế, hình các Cao Tăng các chùa ở Huế đến thỉnh xin Hòa thượng ngưng tuyệt thực, nhất là tấm hình 60 Tăng sinh đến xin tháp tùng ngài tuyệt thực, mà những "khúc ruột ngoài ngàn dặm" trên năm châu đều chứng kiến với tấm lòng âu lo, rỏ lệ. Riêng ngài Dân biểu Thích Chơn Thiện, tu hành hạnh từ bi suốt 43 năm, vẫn điềm nhiên tọa thị, bất chấp nổi lòng người dân Huế !
Lần thứ năm, Ngài Dân biểu Thích Chơn Thiện còn cho biết rằng ngài là người thông báo Quốc hội cộng sản bức thư của Hòa thượng Thích Trí Tịnh, nhân danh Chủ tịch Hội đồng Trị sự Giáo hội Nhà nước gửi Chủ tịch Hạ viện Hoa Kỳ phủ nhận Nghị quyết HR. 427. Thưa ngài Dân biểu, 107 Tăng sinh Huế vừa ký tên chung bức Tâm thư gửi Hòa thượng Thích Trí Tịnh phản bác những lập luận của Giáo hội Phật giáo Nhà nước. Trong Tâm thư có đoạn viết rằng : "việc Hòa thượng nói : "... do một vài Dân biểu trình trước Quốc hội, là một điều không hợp pháp". Chúng con nghĩ rằng, lẽ ra Hòa thượng không nên nói bất cứ một điều gì khi Hòa thượng chưa nắm rõ. Hợp pháp hay không hợp pháp là việc của các vị Dân biểu Hạ viện Hoa Kỳ. Chắc chắn họ biết rõ ràng hơn hẳn Hòa thượng về điểm này. Đó là chuyên môn của họ. Không ai có thể tin rằng, Hòa thượng có khả năng chỉ bày về luật pháp Hoa Kỳ cho các Dân biểu Hạ viện Hoa Kỳ. Còn việc Hòa thượng cho rằng, Quốc hội Hoa Kỳ đã xen vào công việc nội bộ của Việt Nam, thì qua văn thư, chính Hòa thượng đã xen vào công việc nội bộ của Quốc hội Hoa Kỳ, của nhân dân Hoa Kỳ, nhắc nhở ông Chủ tịch Hạ viện Hoa Kỳ về luật pháp của Hoa Kỳ". Ngài Dân biểu từng du học Hoa Kỳ, sao lại có thể mù tịt về cơ chế dân chủ tại Quốc hội Hoa Kỳ như thế nhỉ. Để nhắm mắt tin càng ngài Thích Trí Tịnh, người chưa bước chân ra khỏi chùa, khỏi nước, nên đơn giản nghĩ rằng Quốc hội Hoa Kỳ và Quốc hội Âu châu cũng chạ chạ như Quốc hội Hà Nội ? Chủ tịch Quốc hội tại Hà Nội vừa là ủy viên Bộ Chính trị, nên có toàn quyền quyết định, Dân biểu, như ngài Thích Chơn Thiện là một, chỉ là Nghị gật mà thôi. Hoặc nói cho lịch sự hơn, là Dân biểu luôn giơ tay nhất trí với Đảng, mà chẳng có ý kiến ý cò gì cả. Còn chức Chủ tịch Hạ viện mà Ngài Thích Trí Tịnh hăm hở viết thư xin can thiệp, tiếng Anh gọi là Speaker, tức người điều hành các phiên họp, chứ không có quyền hạn tối thượng trong các quyết định dân chủ của các đại biểu/dân biểu, như ngài Nguyễn Văn An ở nước ta đâu. Tuy ở Huế, nhưng xem ra ngài Dân biểu Thích Chơn Thiện chẳng biết bao lăm chuyện Huế, chuyện Phật giáo Huế. Nếu ngài Dân biểu xem thường giới Tăng sinh con cháu của Ngài để hạ cố xin xem bức Tâm thư dẫn thượng, đề nghị ngài Dân biểu vào liêu phòng đóng cửa cho kín, rồi mở Đài Á châu Tự do tìm trong kho lưu trữ điện tử để nghe toàn văn bức Tâm thư đọc trong chương trình 6 giờ 30 sáng 5.12.2003.
Lần thứ sáu, khi một người ở thành phố Hồ Chí Minh hỏi : "Xin Hòa thượng vui lòng cho biết Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế ở Paris có tư cách ra sao và ông Võ Văn Ái là người như thế nào mà dám ngang nhiên can thiệp vào công việc của Giáo hội Phật giáo Việt Nam chúng ta ?". Ngài Dân biểu Thích Chơn Thiện đáp : "Ông Võ Văn Ái không phải là một thành viên của Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Trước năm 1975, đối với Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, ông cũng không là một thành viên. Nhưng việc làm của ông Võ Van Ái ở Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế là do chính ông tự tung tự tác". Cả gan đến như thế, thì thật là điếc không sợ súng. Còn chi là tư cách mà ngài Dân biểu xác nhận trong cuộc phỏng vấn : "Đã là một tu sĩ Phật giáo thì phải tôn trọng sự thật". Thưa ngài Dân biểu Thích Chơn Thiện, đương nhiên ông Võ Văn Ái không là thành viên của Giáo hội Phật giáo Nhà nước. Nhưng ông ấy là thành viên của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất từ những năm 60. Ông Ái là người sáng lập phong trào Phật giáo Việt Nam đầu tiên ở hải ngoại, gọi là Hội Phật tử Việt kiều Hải ngoại ra đời năm 1963 và có 11 nước hội viên tại các nước Á, Âu, Mỹ. Viện Hóa Đạo thành lập đầu tiên năm 1964, khi Hòa thượng Thích Tâm Châu làm Viện trưởng, đã ra Thông tư công nhận tổ chức của ông Ái như Chi bộ hải ngoại của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất. Dưới thời Cố Hòa thượng Thích Thiện Hoa làm Viện trưởng, sự công nhận ấy vẫn tiếp tục qua văn thư. Ngoài ra, ông Võ Văn Ái cũng có chân trong Phái đoàn của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất bên cạnh Hòa hội tại Paris. Vì lý do riêng, ông Ái từ nhiệm tất cả các chức vụ nói trên vào năm 1970. Sau lời kêu gọi thống nhất Phật giáo trong và ngoài nước của Cố Đại lão Hòa thượng Thích Đôn Hậu, Đức Đệ tam Tăng thống của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, vào năm 1991, và sau biến cố đàn áp Phật giáo Huế qua vụ tang lễ Ôn Linh Mụ, cũng như sau lời mời gọi của Hòa thượng Thích Huyền Quang, ông Võ Văn Ái mới trở lại làm việc với Giáo hội trong cương vị Giám đốc Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế. Sau ngày Hòa thượng Thích Quảng Độ được trả tự do năm 1998, và trong cương vị Viện trưởng Viện Hóa Đạo, Hòa thượng Thích Quảng Độ đã ra Quyết Định số 01/VHĐ/QĐ ngày 27.8.1999 công cử ông Võ Văn Ái làm Giám đốc Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế và Phát ngôn nhân của Viện Hóa Đạo. Những việc này ngài Dân biểu Thích Chơn Thiện không biết, có thể vì trước năm 1975, ngài chỉ làm thị giả cho Đức Đệ nhất Tăng thống Thích Tịnh Khiết, khi trưởng thành thì sang Mỹ du học. Học xong Cao học hồi hương, ngài Dân biểu cũng chỉ hoạt động tại Đại học Vạn Hạnh ở chức vụ Phó giám đốc Nha sinh viên, nhưng chẳng đảm đương chức vụ gì trọng yếu trong Giáo hội để biết các chuyện nói trên. Tuy nhiên, ngày nào đi làm công tác cho Đảng tại Pháp, xin mời ngài Dân biểu ghé thăm Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế, chúng tôi sẽ cho ngài xem các văn kiện nói trên của Viện Hóa Đạo trước và sau 1975. Tạm thời, ngài Dân biểu Thích Chơn Thiện có thể nhấc điện thoại kiểm chứng các sự kiện này qua Hòa thượng Thích Minh Châu, là người có chức vụ cao cấp trong Viện Hóa Đạo trước năm 1975 và cũng đã biết ông Ái từ thời Hòa thượng còn du học ở Nalanda bên Ấn Độ.
Mạng Ý Kiến: Để bạn đọc tiện tham khảo, chúng tôi xin trích đăng dưới đây bài phỏng vấn Hòa thượng Thích Chơn Thiện trên báo điện tử VietnamNet ngày 26.11.2003.
Hoà thượng Thích Chơn Thiện:
'Xích lại gần nhau, cảm thông nhau hơn là tranh cãi lẽ thị phi ...'
15:02' 26/11/2003 (GMT+7)
Hoà thượng Thích Chơn Thiện quen thuộc với giới tăng ni Phật tử trong và ngoài nước không chỉ bởi ông đã có 43 năm tu hành mà còn vì ông là tác giả của nhiều tác phẩm về Phật học và văn học ... Trước việc ngày 19/11 vừa qua, Hạ viện Quốc hội Hợp chủng quốc Hoa Kỳ thông qua nghị quyết HR 427, ông đã không thể im lặng. Đó cũng là lý do để ông - một nhà tu hành vốn kín tiếng, khiêm nhường nhận lời tham gia cuộc giao lưu trực tuyến trên báo điện tử VietnamNet chiều nay.
Hoà thượng Thích Chơn Thiện hiện nay là Phó trưởng ban thường trực Ban Phật giáo Quốc tế, Trưởng ban giáo dục tăng ni Trung ương của Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Viện trưởng Học viện Phật giáo Việt Nam tại Huế, Đại biểu Quốc hội khoá XI. Nói đến những tác phẩm của ông (3 dịch phẩm và 12 tác phẩm), nổi tiếng nhất phải kể đến cuốn "Phật học khái luận" đã tái bản tới 8 lần; công trình nghiên cứu "Lý thuyết về nhân tính" xuất bản bằng cả Việt ngữ và Anh ngữ đã được phát hành ở nhiều nước. Đặc biệt, 62 năm của cuộc đời và 43 năm gắn bó với chốn cửa thiền tại đất Cố đô - một vùng đất thấm nhuần tinh thần Phật giáo đã để lại cho Hoà thượng Thích Chơn Thiện cuốn sách "Hoa Ngọc Lan" - một tác phẩm văn học nói về nếp sống của giới tu hành.
Nếu không tình cờ có chuyến đi Huế và biết về Hoà thượng Thích Chơn Thiện qua các nhân sĩ tại đất Cố đô, có lẽ chúng tôi cũng khó hình dung được, vị tu hành gia giản dị và khiêm nhường ấy cũng từng thành đạt trong sự học. Ông đã từng tốt nghiệp Cao học tâm lý giáo dục (Educational Psychology - M.Ed.) tại Mỹ năm 1973, nhận bằng phó tiến sĩ Phật học (M.Phie) tại Đại học Delhi (Ấn Độ) năm 1993, và năm 1996, khi đã 55 tuổi, ông nhận bằng tiến sĩ Phật học (Ph.D.) cũng tại Ấn Độ). Những học thức mà ông có đã góp phần làm đẹp Đời và Đạo.
Cũng có một chi tiết đặc biệt mà ít người biết đến: từ năm 1964 đến 1973 (trước giải phóng), hoà thượng Thích Chơn Thiện là đệ tử thị giả của Đức đệ nhất tăng thống Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất Thích Tịnh Khiết. (Đến năm 1981, ông đã cùng tổ chức này gia nhập Ngôi nhà chung Giáo hội Phật giáo Việt Nam).
Cũng trầm mặc và kín đáo như Huế và con người xứ Huế, hơn nữa lại là người tu thiền, ông không phải là người dễ bộc bạch. Đã nhiều lần ông từ chối trả lời phỏng vấn của các cơ quan thông tấn trong và ngoài nước. Thế nhưng, trước việc ngày 19/11 vừa qua, Hạ việc Quốc hội Hợp chủng quốc Hoa Kỳ thông qua nghị quyết HR 427, ông đã không thể im lặng. Ngày hôm qua, ông trình bày trước Quốc hội Việt Nam bức thư của Chủ tịch Hội đồng trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thích Trí Tịnh nói lên ý nguyện của tăng ni, phật tử Việt Nam trước hành động đó của Hạ viện Hoa Kỳ. Ông cũng tâm sự với VietnamNet: "Nói rằng Việt Nam không có tự do tôn giáo là sai sự thật. Là một người luôn đặt lợi ích dân tộc lên trên hết, tôi không thể thờ ơ trước việc người ta nói sai sự thật về dân tộc mình, Tổ quốc mình".
Dưới đây là nội dung cuộc phỏng vấn
Hoai Thuong - Nữ - Hanoi
- Có một người bạn ở Huế vừa gọi điện cho tôi nói rằng, ông đã từng tuyên bố: "Tôi sợ hãi những cuộc chiến tranh tôn giáo". Có phải là lý do để một người kín tiếng như ông phải lên tiếng trong thời điểm hiện tại? Khi đã quyết định lên tiếng, ông có sợ sự chỉ trích từ các phía khác nhau ?
- Đã là một tu sĩ Phật giáo thì phải tôn trọng sự thật, chỉ sợ mình nói sai sự thật thôi. Khi mình đã nói ra thì phải chịu trách nhiệm với lời nói đó và phải tôn trọng sự thật. Vì vậy, không phải sợ hãi những phản ứng tâm lý của những người xung quanh bởi vì tôi nghĩ rằng mỗi người phải chịu trách nhiệm về lời nói và việc làm của chính mình.
Jimmy Tran - Nam - Ca, USA
- Ông khẳng định rằng Việt Nam không có chuyện đàn áp tôn giáo? Vậy ông bình luận thế nào về những thông tin mà nguợc lại? Liệu có chuyện ông cũng bưng bít thông tin? Tôi hi vọng rằng nhân cách, học vấn của ông sẽ khiến ông trả lời khách quan câu hỏi này ?
- Tôi xin trả lời một cách thành thật: về tư cách của một người tu sĩ Phật giáo, tôi nói một cách tự do theo ý nghĩ của tôi, không có sức ép nào bên cạnh cả. Nói vệ tự do tôn giáo thì bao giờ cũng phải nói về sự giới hạn của nó, không bao giờ tiếc nuối nào cả ở bất cứ nơi nào. ở Việt Nam trước 1975, chính phủ ông Diệm đã chủ trương kỳ thị tôn giáo đó thôi. Các tu sĩ cũng phải đi trình diện quân dịch, và bản thân tôi cũng đã phải trình diện hai lần. Quý vị có nghĩ rằng đây có tự do tôn giáo không? Đối với Việt Nam sau 1975, vấn đề lớn nhất của xứ sở là phải ổn định nhiều mặt sinh hoạt của đất nước, như là an ninh, kinh tế, giáo dục, trong điều kiện phải giải quyết gánh nặng hậu quả của chiến tranh. Giữa tình hình đó, hẳn nhiên, mọi quyền của công dân đều có giới hạn để thích ứng với nhịp độ phát triển của đất nước. Và Phật giáo cũng phải cảm thông và chia sẻ với gánh nặng đó của đất nước. Nhưng tình hình đất nước một ngày một cải thiện thì tự do tôn giáo cũng được cải thiện rõ rệt. Năm 1981, chín bộ phái Phật giáo miền Nam và hai bộ phái Phật giáo miền bắc thể hiện truyền thống đại đoàn kết dân tộc đã đi đến sự nhất trí Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất toàn quốc. Trưởng đoàn Giáo hội Phật giáo thống nhất thời ấy là hoà thượng Thích Thiện Siêu, một bậc thạc đức ở Huế. Những bậc lãnh đạo cao cấp nhất của Giáo hội Phật giáo Việt Nam trước 1975 như hoà thượng Thích Trí Thủ, hoà thượng Thích Đôn Hậu, hoà thượng Thích Mật Hiển, hoà thượng Thích Trí Tịnh, hoà thượng Thích Minh Châu và nhiều bậc tôn tu khác đã tham dự hội nghị thống nhất này. Đại hội đã đề cử hoà thượng Thích Trí Thủ làm chủ tịch Hội đồng trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam năm 1981.
Từ đó, Giáo hội Phật giáo Việt Nam bắt đầu đi vào những bước phát triển quan trọng cho đến ngày nay:
- HIện tại và cả nhiều năm trước đây,các vị tu sĩ đã được tự do thuyết giảng đạo lý, tự do mở trường học, tự do thực hiện các nghi thức tôn giáo; các tín đồ Phật giáo tự do đến chùa, tự do học hỏi giáo lý, tự do thực hành giáo lý theo niềm tin của chính mình, không có bị ngăn cản gì. Hiện tại, có đến 28 trường Trung học Phật giáo, 3 học viện Phật giáo (cấp văn bằng cử nhân), 4 trường Cao đẳng Phật giáo đã giáo dục tăng ni sinh( đã có hơn 100 tăng ni sinh được đào tạo trong giai đoạn này xuất ngoại du học tại Ấn độ, Tích Lan, Thái Lan, Miến Điện, Nhật Bản, Đài Loan, Pháp, Đức, đã có ngót 20 người đõ tiến sĩ Phật học, số còn lại đang viết luận án tiến sĩ hoặc đang chuẩn bị thi cao học, thạc sĩ: sự kiện này đã được báo Chuyển Luân của Việt Kiều hải ngoại gọi là sự kiện hi hữu của 1000 lịch sử Phật giáo trở lại đây). Ngoài ra, Viện nghiên cứu Phật học, Hội đồng phiên dịch Đại tạng kinh Việt Nam đã ấn hành được hơn 30 tập kinh dày 600 trang và hàng trăm đầu sách hàng năm. Nếu không có tự do tôn giáo thì làm sao có thành quả này, thành quả mà trước năm 1975, Giáo hội Phật giáo ViệtNam thống nhất chưa từng nghĩ đến.
Điều quan trọng mà chúng ta cần nghĩ đến là vấn đề đoàn kết của dân tộc và sự hưng thịnh của xứ sở. Tất cả cần xích lại gần nhau, cảm thông nhau để xây dựng hơn là chúng ta tranh cãi lẽ thị phi.
truong phuc - Nam - [longtph@yahoo.co.uk]
- Kính chào Hoà thượng Thích Chơn Thiện. Như bao người Việt Nam khác, chúng tôi rất bất bình về Bản Dự luật bổ sung về nhân quyền Việt Nam dp Quốc hội Mỹ vừa dự thảo. Xin cho hỏi thái độ của Hoà thượng và Trung ương Hội Phật giáo Việt Nam về bản Dự thảo này ? Hội Phật giáo Việt Nam có phản ứng gì ? Xin chân thành cảm ơn. (Duc Long- 29 tuoi, HANOI).
- Xin chào anh Đức Long,
Về Nghị quyết HR427 gồm 5 điểm do Hạ nghị viện Mỹ thông qua, sau đó Nghị viện Châu Âu cũng có quyết định tương tự, Chủ tịch Hội đồng trị sự Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Hoà thượng Thích Trí Tịnh, đã có thư đề ngày 22/11/2003 gởi Chủ tịch Hạ nghị viện Hợp chủng quốc Hoa Kỳ. Trong thư này, Hoà thượng đã xác nhận rõ tiến trình hợp nhất các bộ phái Phật giáo Việt Nam trong cả nước và thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam hiện tại vào năm 1981; Hoà thượng cho rằng đây là một cuộc vận động thống nhất theo truyền thống của Phật giáo Việt Nam: Năm 1951, có một cuộc vận động thống nhất; năm 1960, 1964 cũng có cuộc vận động thống nhất Phật giáo; năm 1980 là cuộc vận động thứ 4 thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam hiện tại; Hoà thượng nhắc lại lời của cố Hoà thượng Thích Trí Thủ rằng: "Lần đầu tiên trong lịch sử 2000 năm Phật giáo Việt Nam, chúng ta có được một Hội nghị gồm đầy đủ đại biểu của các tổ chức, Giáo hội, hệ phái Phật giáo trong cả nước: Bắc tông, Nam tông, Khất Sĩ và Phật giáo Khơme, tăng ni và nam nữ tu sĩ già và trẻ từ mọi miền trên đất nước đã vân tập về đây trong hội trường trang nghiêm và rực rỡ này, với một quyết tâm sắt đá: Xây dựng hoàn thành xây dựng ngôi nhà Phật giáo Việt Nam"; Hoà thượng nhân danh Chủ tịch Hội đồng trị sự Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam yêu cầu ngài Chủ tịch Hạ viện Quốc hội Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, với cương vị của mình hãy ngăn chặn kịp thời và không để những hoạt động tương tự của một vài đại biểu đã ngang nhiên tạo dựng điều sai sự thật và cố tình xuyên tạc tình hình sinh hoạt tín ngưỡng tôn giáo ở Việt Nam, hòng can thiệp vào công việc nội bộ tôn giáo ở Việt Nam nói chung và của Giáo hội Phật giáo Việt Nam nói riêng... Mong rằng, với cương vị của mình, ngài sẽ có những bước đi tích cực hơn trong việc thúc đẩy mối bang giao giữa hai đất nước chứ không vì một vài cá nhân mà làm phương hại đến lợi ích chung của hai dân tộc.
Như vậy, anh Đức Long đã thấy rõ thái độ phản ứng rất trung thực và nhẹ nhàng của Giáo hội. Tôi là một tu sĩ thành viên của Giáo hội Phật giáo Việt Nam hiện tại hoàn toàn nhất trí về nội dung bức thư của Hoà thượng nói trên.
Phan Hải Anh - Nam 26 tuổi - Hà nội
- A di đà phật! Thưa hòa thượng, "Phi viễn phi cao tâm tức phật", trước công chúng, hòa thượng có thể cho biết hòa thượng giao lưu trực tiếp với các phật tử và các công dân Việt là do ý nguyện của hòa thượng hay vì một sức ép nào ?
- Bạn Hải Anh, cho đến giờ phút này, mọi việc làm của chúng tôi liên hệ với Phật giáo là do hoàn toàn tự nguyện, không có sức ép nào cả. Đây là sự thật.
Thang - Nam - [nguyen_kimthang@yahoo.fr]
- Chào Hoà thượng. Xin phép cho tôi hỏi: Nguyên nhânnào dẫn tới việc gần đây liên tục xảy ra "xích mích" giữa Nhà nước và một số tổ chức Phật giáo? Ý kiến của Hoà thượng ?
- Giữa Giáo hội Phật giáo Việt Nam và Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện tại không hề có xảy ra một sự việc nào gọi là "xích mích" cả. Chỉ có một vài cá nhân bất đồng ý kiến với Giáo hội hiện tại, nhân danh Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất trước 1975 đi vào các hoạt động không phù hợp với Hiến chương của Giáo hội Phật giáo Việt Nam hiện tại và pháp luật Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện tại, và tạo ra điều mà bạn gọi là "xích mích" đó thôi.
Nguyễn minh Vũ - Nam - Q10, HCM
- Xin hòa thượng vui lòng cho biết Phòng thông tin Phật giáo Quốc tế ở Paris có tư cách ra sao và ông Võ Văn Ái là nguời như thế nào mà dám ngang nhiên can thiệp vào công việc của Giáo hội Phật giáo Việt nam chúng ta ?
- Ông Võ Văn Ái không phải là một thành viên của Giáo hội Phật giáo Việt Nam hiện tại. Trước năm 1975, đối với Giáo hội Phật giáo Thống nhất, ông cũng không là một thành viên. Nhưng việc làm của ông Võ Văn Ái ở Phòng thông tin Phật giáo Quốc tế Paris là do chính ông tự tung tự tác. Chính bản thân tôi cũng không hiểu ông dựa vào tổ chức nào và sức mạnh nào để gây ra những ngộ nhận về sự thật phát triển của Giáo hội Phật giáo Việt Nam trong nước.
Trần Vân - Nam 35 tuổi - GiaLai
- Xin phép được hỏi : Hòa thượng có suy nghĩ gì về Hòa thượng Thích Huyền Quang và Thượng tọa Thích Quảng Độ ?
- Trước năm 1975, nhị vị hoà thượng là cấp lãnh đạo Phật Giáo của chúng tôi. Về mặt Phật giáo, bản thân chúng tôi bao giờ cũng kính trọng. Riêng hoạt động của nhị vị hoà thượng nhân danh Giáo hội Phật giáo thống nhất thì nhị vị hoà thượng chịu trách nhiệm với lịch sử, với Giáo hội Phật giáo Việt Nam và với luật pháp của Nhà nước hiện nay.
Quan Tran - Nam 35 tuổi - Taiwan
- Thưa Hoà Thượng, Hoà Thượng có thể cho biết tình hình của Hoà Thượng Thích Thiện Hạnh ở Huế được không ạ ?
- Tôi rời Huế 1 tháng rưởi nay rồi, và đang còn xa Huế một thời gian ngắn nữa nên không biết rõ tình hình hiện tại của hoà thượng hiện tại ở Huế. Bạn có thể liên hệ điện thoại với Chùa Bảo Quốc thì sẽ rõ. Điều mà tôi biết ngày gần nhất là tình hình Phật Giáo ở Huế rất bình ổn, và sinh hoạt ở chùa Bảo Quốc, nơi hoà thượng Thích Thiện Hạnh cư trú, vẫn bình thường.
NGUYEN VAN TRUONG - Nam 27 tuổi - HAIPHONG
- Mới đây, tôi đọc trên một website nước ngoài nói rằng các hoà thượng ở miền Nam bị chính quyền đàn áp, cấm hoạt động, giam lỏng. Vậy xin Hoà thượng cho biết điều này có đúng không ?
- Xin trả lời thẳng rằng điều đó hoàn toàn sai sự thật.
Bao Truong - Nam - Nam dinh
- Người ta nói giới tu hành cũng mất đoàn kết ? Như vậy, có phải là các vị đi tu mà chưa đắc đạo ?
- Vấn đề thiếu cảm thông giữa người và người là vấn đề muôn thủa. Người tu sĩ Phật giáo ở mọi thời đại cũng khó thoát ra khỏi sự thật đó. Chính đó là lý do mà các tu sĩ Phật giáo xuất gia và nỗ lực để vượt qua. Có những người đã vượt qua, đang vượt qua, có những người đang khó khăn trong nỗ lực vượt qua.
Trần Hải - Nam 31 tuổi - Vinh-Nghệ An
- Kính thưa hòa thượng, ở thành phố của tôi (Vinh) chỉ duy nhất có một ngôi chùa có sư trụ trì. Đó là Cần Linh Tự do một vị sư nữ đảm nhiệm, hình như cả tỉnh Nghệ An cũng chỉ có chừng đấy. Bởi thế, chúng tôi thường xuyên đến gặp vị sư đó để được nghe đàm luận về chuyện đaọ, chuyện đời. Thú thật, mỗi lần ở Cần Linh Tự ra về, mặc dầu không phải là Phật tử, nhưng trong cõi lòng tôi cảm thấy mình thanh thoát lên biết bao nhiêu. Tôi còn nhớ một câu của nhà Phật "Phật pháp bất ly thế gian pháp". Vậy thưa hòa thượng, với cương vị của mình, ông đã làm gì để lời giáo huấn trên thực sự có ý nghiã? Một vấn đề khác, tôn giáo là nơi rất hay bị các thế lực phản động lợi dụng (lich sử VN đã có nhiều ví dụ chứng minh). Theo ông, cần phải có những gì để giữ đúng đường tu, vì đất nước, vì nhân dân. Và tôi muốn biết tư tưởng chủ đạo của ông trong "Hoa ngọc lan" (đúc kết bằng một vài ý chính)
- Phật giáo Việt Nam từ ngày du nhập đến nay luôn gắn liền với triều thịnh suy của dân tộc, luôn luôn thể hiện tinh thần "đạo và đời là một". Giáo hội Phật giáo Việt Nam hiện tại nói chung, cá nhân tôi nói riêng đang sống theo tinh thần đó.
Vấn đề lợi dụng các tổ chức tôn giáo, xã hội luôn là vấn đề chính trị của mọi thời đại. Tôi nghĩ rằng sống đúng với lời Phật dạy, thể hiện châm ngôn của Giáo hội Phật giáo Việt Nam hiện tại đã là một sự đóng góp có ý nghĩa.
"Hoa ngọc lan" là một tập sách bỏ túi giới thiệu khái quát về nếp sinh hoạt của nhà chùa Huế. Rất là đơn giản!
vince pham - Nam 30 tuổi - Hanoi
- Ông nghĩ thế nào về việc EU và Mỹ luôn sử dụng vấn đề tự do tôn giáo để chỉ trích Việt nam trong khi chính phủ Việt nam luôn luôn bác bỏ những cáo buộc này. Theo ông, sự khác biệt trong nhìn nhận về tự do tôn giáo giữa hai phiá là như thế naò ? Là một người tu hành, ông cảm nhận như thế nào về sự chỉ trích của quốc tế
- Vấn đề hạ viện Hoa kỳ và nghị viện EU sử dụng vấn đề tự do tôn giáo để chỉ trích Việt Nam, gây sức ép về mặt đối ngoại cho Việt Nam là vấn đề của hai tổ chức đó. Chính tôi cũng rất ngạc nhiên về thái độ ấy của họ. Việt Nam đã và đang đi vào hội nhập khu vực và thế giới, vào WTO vào năm 2005, và đang có liên hệ ngoại giao tốt với Hoa Kỳ và EU, nếu là thiện chí vì sự hội nhập khu vực và toàn cầu, vì hoà bình thịnh vượng chung thì hai quốc gia và cộng đồng ấy có những góp ý xây dựng qua đường lối ngoại giao mà không nên công bố các nghị quyết về tôn giáo tương tự như thế, đấy là một sự can thiệp không công bằng vào nội bộ của một quốc gia khác.
nguyenvanhoa - Nam 26 tuổi - thanhxuan-hn
- Hòa thượng có thể biết vừa qua có thông tin về việc công an còng tay các nhà sư ỏ Huế có đúng sự thực không ạ ?
- Nguồn tin đó hoàn toàn sai sự thật. Lúc ấy tôi đang ở Huế và tôi biết rõ không có chuyện đó.
Trần Ái Quốc - Nam 26 tuổi - Hà Nội
- Xin mạo phạm hỏi ông một câu, trước Phật tổ, mong ông trả lời thật lòng: Ông có phải là một người cộng sản khoác áo nhà sư ?
- Tôi xin thành thật xác nhận, cho đến bây giờ, tôi thực sự là một tu sĩ Phật Giáo. Và trong tương lai tự mình quyết định mãi mãi là một tu sĩ Phật Giáo. Tôi chưa bao giờ là một Đảng viên cộng sản hay là cán bộ của chính quyền cả.
Trinh Van Can - Nam - Dong da, HN
- Tôi có đọc 1 cuốn sách về Tây Du Ký của ngài ? Lại nghe nói ngài đang định viết sách về tư tương đạo Phật trong Kim Dung - ông có biết võ không ?
- Tôi thực sự không biết về võ thuật. Tôi chỉ viết về ảnh hưởng của Phật giáo qua các tác phẩm đó trong hiểu biết giới hạn của mình.
nguyễn như tân - Nam 25 tuổi - hai phong
- Tại sao các tôn giáo trên thế giới khó chung sống hòa binh với nhau. Tôn giáo chỉ là tín ngưỡng thôi mà!
- Sự khác biệt về tư duy, tín ngưỡng thường khiến cho con người xa nhau. Đây là sự thật rất hạn chế của con người. Đã là sự thật xin đừng hỏi "tại sao"!
Anh Viet Nguyen - Nam - United Kingdom
- Trong giáo lý Đạo Phật, chia rẽ tăng đoàn là một tội nặng. Xin Thầy cho biết quan điểm của mình về tình hình Giáo hội từ sau ngày đất nước thống nhất ?
- Đúng như bạn nghĩ, chia rẽ hàng ngũ tăng gia là một tội nặng theo giáo lý nhà Phật như bạn đã nghĩ.
Giáo hội Phật giáo Việt Nam từ 1975 đến giờ đã có những phát triển đáng kể:
Về giáo dục, đã tổ chức nhiều trường tiểu học Phật giáo, 28 trường Trung học Phật giáo, 4 trường Cao đẳng Phật học, 3 Học viện Phật giáo ở 3 miền Bắc Trung Nam đã đào tạo hàng nghìn tăng ni Phật giáo.
Hiện nay, có hơn 100 tăng ni sinh du học nước ngoài (số lượng thực tế có thể gần đến 200). Trong đó, có khoảng 20 tăng ni sinh đỗ Tiến sĩ, nhiều tăng ni sinh đang chuẩn bị bảo vệ luận án Tiến sĩ, nhiều tăng ni sinh đỗ Thạc sĩ, và nhiều tăng ni sinh đang theo học lớp sau đại học. Đây là một mặt phát triển của Giáo hội rất đáng khích lệ.
Về Hoằng pháp, đã tổ chức đào tạo nhiều lớp giảng sư...
Về thuyết giảng giáo lý, có rất nhiều lớp giáo lý được mở ra khắp 3 miền cho tăng ni và Phật tử...
Về văn hóa, đã xuất bản nhiều tờ báo Phật học... Hằng năm xuất bản hàng trăm đầu sách.
Về phiên dịch và ấn hành Đại tạng kinh Việt Nam, Giáo hội đã thành lập Hội đồng phiên dịch đại tạng, đã ấn hành hơn 34 tập kinh Nikaya và Ahàm...
Về công tác từ thiện xã hội, Giáo hội đã mở ra rất nhiều trung tâm nuôi dạy và giáo dục trẻ em mồ côi, nhiều viện dưỡng lão, trạm cấp thuốc từ thiện... và tham gia các tổ chức cứu trợ đồng bào là nạn nhân của thiên tai, lũ lụt...
Các Phật sự trên đang tiếp tục tiến hành. Đấy là những nét cương yếu về tình hình phát triển Giáo hội Việt Nam hiện tại.
Hoang Minh Thien - Nam - [minhthien-iss@hn.vnn.vn]
- Là người theo đạo Phật, việc can dự vào cuộc sống có trái với các giáo lý của Phật không, thưa ông ?
- Vấn đề không phải là can dự mà là dấn thân vào xã hội để phục vụ con người trong điều kiện có thể của người theo tư cách của một tu sĩ Phật giáo. Người tu sĩ luôn luôn cần biết sống tuỳ duyên.
Duong dinh duyen - Nam 35 tuổi - 248 Phan Boi Chau
- Hiện nay Hoà thượng đang ở đâu ?
- Chắc là bạn muốn biết con người tâm linh của tôi đang ở đâu. Điều tôi chỉ có thể nói với bạn là tôi đang là một tu sĩ Phật giáo phục vụ Giáo hội Phật giáo Việt Nam hiện nay ở trong nước.
Vì thời gian có hạn, tôi không thể trả lời tất cả câu hỏi của các bạn gửi đến lúc này. Nếu bạn nào cần liên hệ trao đổi, xin liên lạc với tôi về địa chỉ tại chùa Tường Vân (Huế) trong những ngày nghỉ cuối tuần.
Thân chào!